Bảo hộ nhập khẩu, các chu kỳ kinh doanh và tỷ giá hối đoái: Bằng chứng từ cuộc Đại Suy thoái

31/12/2013 12:00 - 1369 lượt xem

ChadP.Bown

MeredithA.Crowley

Tómlược:

Nghiên cứu đánh giá tác động của các biến động kinh tế vĩmô tới các chính sách bảo hộ nhập khẩu từ Quý 1 năm 1988 tới Quý 4 năm 2010 của 5 nền kinh tế phát triển, đó là : Hoa Kỳ, EU, Úc, Canada và Hàn Quốc. Tác giảtìm kiếm bằng chứng về chính sách thương mại phản chu kì tương ứng trong giaiđoạn trước cuộc Đại Suy thái từ quý 1 năm 1988 tới quý 3 năm 2008, trong giaiđoạn đó gia tăng tỷ lệ thất nghiệp trong nước, những đánh giá thực tế về tỷ giásong phương, đồng thời sự sụt giảm trong tỷ lệ tăng trưởng GDP của các đối tácthương mại song phương đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể những rào cản thương mạitạm thời. Tác giả tiếp đó áp dụng mô hình thực nghiệm thời kỳ trước Đại suythoái để xác định các dữ liệu kinh tế vĩ mô từ quý 4 năm 2008 tới quý 4 năm2010 và nhận thấy nó có thể dự báo được sự gia tăng các biện pháp bảo hộ nhậpkhẩu mới trong suốt thời kỳ Đại Suy thoái-ví dụ, với Hoa Kỳ và EU, mô hình dựbáo các rào cản thương mại mới có thể chiếm thêm 15% điểm trong lượng hàng hóa nhậpkhẩu không bao gồm dầu mỏ, cao hơn nhiều đường tiêu chuẩn từ 2-3% của phạm vinhập khẩu ngay trước thời kỳ khủng hoảng. Cuối cùng, tác giả nghiên cứu nguyênnhân mà các phản hồi chính sách thương mại thu được lại khác biệt so với dự báocủa mô hình. Trong khi biến động tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng trongviệc giới hạn các biện pháp bảo hộ nhập khẩu trong suốt thời kỳ Đại Suy thoái,tác giả đưa ra các bằng chứng về một sự thay đổi rõ ràng trong phản hồi củachính sách thương mại, đó là, trong thời kỳ này, Chính phủ hạn chế không áp dụngcác rào cản thương mại mới lên các đối tác thương mại đang có tốc độ tăng trưởngkinh tế âm hoặc tăng trưởng kinh tế kém.

Tải nghiên cứu tại đây: 

Tải tài liệu
Import Protection, Business Cycles, and Exchange Rates_0.pdf
Quảng cáo sản phẩm