Vụ kiện chốt thép trong WTO và tác động tới Việt Nam
Ngày
15/07/2011 vừa qua, Cơ quan Phúc thẩm (Appellate Body – AB) của Tổ chức Thương
mại Thế giới đã đưa ra báo cáo phán quyết trong vụ tranh chấp DS397 do Trung Quốc
khởi xướng liên quan đến các biện pháp chống bán phá giá chính thức mà EC đã áp
đặt với sản phẩm chốt sắt thép (certain iron or steel fasteners) nhập khẩu từ
Trung Quốc. Báo cáo này có thể buộc EC phải thay đổi các quy định và thủ tục
trong điều tra chống bán phá giá đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường
(NMEs) nói chung chứ không chỉ riêng đối với Trung Quốc. Vì vậy, kết quả của vụ
kiện này được dự báo sẽ có tác động lớn tới thủ tục điều tra chống bán phá giá
của EC đối với các sản phẩm nhập khẩu từ một nước chưa được công nhận nền kinh
tế thị trường như Việt Nam.
Dưới
đây là thông tin tóm tắt diễn tiến vụ việc và những đánh giá tác động ảnh hưởng
từ vụ việc
I.
Tóm
tắt nội dung, diễn biến vụ việc
Vụ
kiện số DS397 trong khuôn khổ WTO giữa Trung Quốc và EC có nguồn gốc từ vụ điều
tra và áp thuế chống bán phá giá của EU đối với sản phẩm chốt sắt thép của
Trung Quốc năm 2007.
Dưới
đây là một số thông tin cơ bản của vụ điều tra chống bán phá giá này:
-
Ngày 26/09/2007: Hội Công nghiệp chốt EU
(đại diện cho hơn 25% tổng sản lượng chốt sắt thép) nộp đơn yêu cầu điều tra chống
bán phá giá đối với sản phẩm chốt sắt thép của Trung Quốc
-
Ngày 09/11/2007: EC chính thức khởi xướng
điều tra chốt sắt thép của Trung Quốc
Sản
phẩm bị điều tra: một số sản phẩm chốt sắt thép có mã CN 8 số bắt đầu bằng 7318
Giai đoạn điều tra:
từ 01/10/2006 đến 30/09/2007.
Quốc
gia thay thế được lựa chọn: Ấn Độ
-
Ngày 26/01/2009: EC ra kết luận cuối cùng (Quyết định số
91/2009) khẳng định chốt sắt thép nhập khẩu từ Trung Quốc bán phá giá gây thiệt
hại cho ngành sản xuất nội địa EC.
Mức thuế suất áp dụng cho từng
doanh nghiệp bị đơn bắt buộc: từ 0.0% - 79.5%
Mức thuế suất toàn quốc áp dụng cho
tất cả các nhà sản xuất Trung Quốc: 85%
Mức thuế suất riêng biệt áp dụng
cho các doanh nghiệp có hợp tác: 77.5%
Các
biện pháp thuế áp dụng trên hiện đang có hiệu lực.
Không
đồng tình với một số quy định và phương pháp tính toán mà EU áp dụng trong vụ
điều tra chống bán phá giá nói trên, Chính phủ Trung Quốc đã khởi kiện EC ra
WTO. Vụ việc tại WTO.
Dưới
đây là tóm tắt diễn biến vụ kiện DS397 tại WTO:
Giai đoạn Tham vấn
Ngày
31/07/2009, Chính phủ Trung Quốc đã gửi yêu cầu tham vấn tới Cộng đồng Châu Âu
(EC) liên quan tới các biện pháp chống bán phá giá (CBPG) mà EC đã áp dụng đối
với sản phẩm chốt sắt, thép của Trung Quốc.
Trung
Quốc dẫn ra 02 nhóm vấn đề trong thực thi và quy định Pháp luật Chống bán phá
giá của EC trong vụ điều tra chống bán phá giá chốt sắt thép Trung Quốc năm
2007 mà nước này xem là vi phạm quy định của WTO:
(i)
Điều
9(5) trong Quy định của Hội đồng EC số 384/96, ngày 22/12/1995 (Pháp luật về Chống
bán phá giá của EC) chỉ
cho phép áp dụng thuế suất riêng đối với những nhà xuất khẩu nước ngoài đáp ứng
các tiêu chí nhất định của EC;
(ii)
Quyết
định của Hội đồng EC số 91/2009 ban hành ngày 26/01/2009, áp thuế chống bán phá
giá đối với sản phẩm chốt sắt thép nhập khẩu từ Trung Quốc.
Trong
đó, các vi phạm mà Trung Quốc viện dẫn thuộc các nhóm:
-
Vi phạm quy định trong quyết định khởi
xướng điều tra, cụ thể là tính đại diện cho ngành sản xuất nội địa của bên đệ
đơn;
-
Vi phạm các quy định trong xác định sản
phẩm tương tự;
-
Vi phạm quy định trong xác định thời hạn
điều tra;
-
Vi phạm các nguyên tắc trong xác định
thiệt hại và mối quan hệ nhân quả;
-
Vi phạm nguyên tắc về điều kiện hưởng
thuế suất riêng và Quy chế nền kinh tế thị trường;
Tham vấn giữa hai
bên nhằm giải quyết ổn thỏa, nhanh chóng vụ việc đã không thành công. Ngày 12/10/2009
Trung Quốc chính thức đề nghị WTO thành lập Ban Hội thẩm giải quyết tranh chấp
này theo Cơ chế giải quyết trong khuôn khổ WTO (DSU).
Giai đoạn Hội thẩm và Phúc thẩm
Ngày 03/12/2010, Ban Hội thẩm ra báo cáo về vụ việc tới
các bên liên quan. Báo cáo của Ban Hội thẩm kết luận Điều khoản 9(5) Pháp luật
Chống bán phá giá của EC vi phạm pháp luật WTO và bác bỏ cáo buộc của Trung Quốc
về những vấn đề còn lại.
Theo Thủ tục giải quyết tranh chấp trong WTO, EC và Trung
Quốc sẽ có khoảng thời gian 60 ngày để đưa ra kháng cáo báo cáo của Ban Hội thẩm,
tuy nhiên, hai bên đã nhất trí gia hạn thời gian này tới ngày 25/03/2011. Nếu
EC và Trung Quốc không có kháng cáo trong thời gian trên, Báo cáo của Ban Hội
thẩm sẽ được DSB thông qua và có giá trị bắt buộc.
Vào ngày cuối cùng của thời hạn trên, ngày 25/03/2011, EC
đã quyết định đưa ra kháng cáo lên Cơ quan Phúc thẩm, yêu cầu cơ quan này xem
xét các khía cạnh pháp lý và giải thích pháp luật trong Báo cáo của Ban Hội thẩm.
Ngày 15/07/2011, Cơ quan Phúc thẩm đã đưa ra báo cáo. Dưới
đây là những kết luận về các vấn đề bị kháng cáo cũng như lập luận mà Cơ quan
này đã sử dụng.
(i)
Liên
quan đến Điều 9(5) của Pháp luật về Chống bán
phá giá của EC
Theo Điều 9(5) của Quy
định về chống bán phá giá EC, khi áp thuế chống bán phá giá, các nhà xuất khẩu
từ nước có nền kinh tế phi thị trường chỉ có thể nhận được mức thuế suất riêng
biệt nếu họ đáp ứng đầy đủ các tiêu chí nhất định của EU (chứng minh được hoạt
động xuất khẩu của doanh nghiệp mình độc lập/ không chịu sự kiểm soát của Nhà
nước). Khi các nhà xuất khẩu nước ngoài không thỏa mãn đầy đủ các tiêu chí sẽ
phải chịu mức thuế suất chung toàn quốc (thường là mức thuế cao hơn hẳn so với
mức thuế suất riêng biệt).
Trong khi đó, tại Hiệp định về Chống bán phá giá, Điều 6.10
quy định cơ quan điều tra phải tiến hành điều tra xác định thuế suất riêng cho
từng bị đơn trong vụ kiện; Điều 9.4 nêu rõ trong trường hợp không thể điều tra
toàn bộ nhà xuất khẩu/ sản xuất, cơ quan điều tra có thể chỉ điều tra một số bị
đơn nhất định, số bị đơn còn lại sẽ được
hưởng mức thuế suất bằng bình quân gia quyền thuế suất của các bị đơn được điều
tra (mà không cần phải đáp ứng bất kỳ tiêu chí bổ sung nào). Như vậy, việc Điều
9(5) của EC đặt thêm các tiêu chí về sự kiểm soát của Nhà nước là không phù hợp
với các Điều 6 và 9 của Hiệp định về chống bán phá giá của WTO.
EC lập luận rằng
các doanh nghiệp không chứng minh được mình độc lập khỏi kiểm soát của nhà nước
thì về cơ bản là giống nhau và cần được xem là “một thực thể”, và mức thuế suất
chung toàn quốc cũng được xem là “một mức thuế suất riêng biệt” áp dụng riêng
cho thực thể đó, Cơ quan Hội thẩm cho rằng lập luận này có thể là hợp lý, nhưng
nội dung các tiêu chí mà Điều 9 (5) của EC nêu không phù hợp với mục tiêu xem
xét liệu có sự kiểm soát của Nhà nước hay không.
Với các lý do này, Cơ
quan Phúc thẩm ủng hộ kết luận của Ban Hội thẩm rằng việc EC quy định Điều 9(5)
Pháp luật chống bán phá giá EC và áp dụng quy định này trong điều tra sản phẩm
chốt sắp thép này là vi phạm các quy định của WTO. Cụ thể, báo cáo chỉ rõ Điều
9(5) Pháp luật chống bán phá giá EC và việc thực thi điều khoản này là trái với
Điều 6.10 và 9.2 Hiệp định CBPG khi đặt thêm điều kiện cho các nhà sản xuất/ xuất
khẩu phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí nhất định mới được hưởng thuế suất riêng
biệt.
(ii)
Liên
quan đến các biện pháp chống bán phá giá áp dụng đối với sản phẩm chốt sắt thép
nhập khẩu từ Trung Quốc
Đây là cáo buộc diện rộng của Trung Quốc, bao gồm nhiều vấn
đề từ giai đoạn khởi xướng điều tra, điều tra xác định hành vi bán phá giá, điều
tra xác định thiệt hại, tới giai đoạn quyết định áp đặt biện pháp cuối cùng
trong vụ điều tra sản phẩm chốt sắt thép của Trung Quốc.
Trong báo cáo của mình, Cơ quan Phúc thẩm không thay đổi
kết luận này của Ban Hội thẩm, khẳng định EU không có vi phạm trong những nội
dung bị cáo buộc này. Mặc dù vậy, những phân tích trong báo cáo của Cơ quan
phúc thẩm cũng cho thấy EC mắc một số sơ hở về pháp lý trong quá trình điều tra
chống bán phá giá và trong tương lai EC sẽ phải cẩn trọng nếu không muốn bị
thua kiện (đặc biệt trong vấn đề xác định phạm vi của ngành sản xuất nội địa
khi đánh giá thiệt hại).
Ngày 28/07/2011, Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) đã
thông qua báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm và báo cáo sửa đổi của Ban Hội thẩm.
Thực
thi các báo cáo được thông qua
Ngày 18/08/2011, EU đã thông báo tới Cơ quan giải quyết
tranh chấp (DSB) trong WTO thiện chí sẽ thi hành các khuyến nghị và kết luận của
DSB thực hiện theo đúng nghĩa vụ trong WTO. Tuy nhiên, EU thông báo cần một khoảng
thời gian thích hợp để thực thi các khuyến nghị trên. Đây có thể được xem như một
tín hiệu tốt từ phía EU (bởi trên thực tế không nhiều nước ngay lập tức tuyên bố
sẽ thực hiện đúng khuyến nghị của cơ quan giải quyết tranh chấp WTO như vậy).
II.
Nội dung và Ý nghĩa của vụ việc đối với Việt Nam
1. “Quy chế Nền Kinh tế Phi thị trường” trong điều
tra chống bán phá giá/chống trợ cấp và Ý nghĩa của phán quyết WTO vụ DS397
Vấn đề nền kinh tế phi thị trường trong các điều tra chống
bán phá giá/chống trợ cấp bắt nguồn từ điều khoản bổ sung thứ 2, đoạn 1, Điều
VI (Hiệp định về chống bán phá giá) của GATT 1947 và tiếp tục được duy trì cho
đến nay. Theo điều khoản này thì với các nước có nền kinh tế phi thị trường, do
giá cả tại các nước này bị Nhà nước ấn định, việc tính toán dựa trên giá nội địa
trong quá trình điều tra có thể là “không phù hợp”. Nói cách khác quy định này
gián tiếp cho phép nước nhập khẩu được áp dụng phương pháp khác so với phương
pháp chuẩn mà WTO quy định liên quan đến giá nội địa.
Các thành viên quan trọng trong WTO (như Hoa Kỳ, EU) đã
“tận dụng” diễn giải này và sự không rõ ràng trong các quy định của WTO để áp đặt
đối với các thành viên mới, có nền kinh tế đang chuyển đổi, phải chấp nhận sự
phân biệt đối xử kinh tế phi thị trường (NME). Cụ thể, đối với các nước bị xem
là NME, trong điều tra chống bán phá giá/chống trợ cấp, EU hay Hoa Kỳ sẽ viện dẫn
quy định nói trên để không áp dụng các phương pháp tính toán chuẩn mà WTO quy định
cho các điều tra này và lựa chọn một phương pháp mà họ cho là phù hợp. Phương
pháp này thường là dùng các giá cả, chi phí của một nước khác thay thế cho giá
cả, chi phí thực của doanh nghiệp khi điều tra. Đồng thời, EU và Hoa Kỳ cũng đặt
ra những điều kiện liên quan đến kinh tế phi thị trường để ngăn các doanh nghiệp
từ NME không được hưởng các đối xử chuẩn theo nguyên tắc của WTO. Theo quy định
tại Pháp luật chống bán phá giá tại nhiều quốc gia thành viên WTO (ví dụ Hoa Kỳ,
Liên minh Châu Âu, Canada, Braxin...), thủ tục và phương pháp điều tra chống
bán phá giá/chống trợ cấp đối với doanh nghiệp xuất khẩu từ một nước NME phức tạp
và thiếu công bằng (hoặc ít nhất là không đảm bảo các chuẩn theo WTO), đặc biệt
là 2 nhóm quy định sau:
(i)
Nhà xuất khẩu/sản xuất phải chứng minh hoạt động xuất khẩu
là “độc lập” với sự kiểm soát của Nhà nước mới có thể được áp dụng mức thuế suất riêng biệt: để chứng
minh được sự “độc lập” của mình các doanh nghiệp phải đáp ứng được đầy đủ các
tiêu chí mà quy định và thủ tục điều tra của nước nhập khẩu đề ra. Điều kiện
này buộc các doanh nghiệp từ nước NME bị điều tra chống bán phá giá/chống trợ cấp
phải chịu thêm một thủ tục xem xét và chứng minh, nếu không sẽ phải chịu mức
thuế suất chung mà thường là rất cao
(ii)
Trong
xác định biên độ phá giá, cơ quan điều
tra của nước nhập khẩu sẽ tính “giá thông thường” thông qua phương pháp tính
toán các yếu tố sản xuất đầu vào thực tế của các nhà sản xuất, xuất khẩu tại một
nước thứ ba (quốc gia thay thế) có nền kinh tế thị trường. Quy định này sẽ khiến
biên độ phá giá không phản ánh thực tế kinh doanh, giá cả của doanh nghiệp mà
phụ thuộc vào giá của một nước thứ ba. Nhiều trường hợp cách tính này khiến
biên độ phá giá/trợ cấp bị “thổi phồng” một cách bất công và khiến doanh nghiệp
chịu thuế suất chống bán phá giá/chống trợ cấp cao hơn;
Trong khi đó, theo cam kết về NME mà Trung Quốc và Việt
Nam bị “ép” phải chấp nhận trong quá trình gia nhập WTO, vấn đề NME chỉ ảnh hưởng
đến việc tính toán “giá thông thường” trong điều tra chống phá giá/chống trợ cấp.
Theo lý thuyết này thì tất cả những quy định khác biệt áp
dụng cho NME ngoài lĩnh vực “tính giá thông thường” là không phù hợp với WTO và
cam kết của nước NME liên quan.
Ban Hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm trong vụ việc này cũng
dựa vào logics nói trên để kết luận rằng Điều 9(5) Quy chế về chống bán phá giá
của EU vi phạm WTO (điều khoản này quy định điều kiện riêng cho NME trong vấn đề
thuế suất riêng rẽ, tức là nằm ngoài vấn đề “giá thông thường”).
2. Ý
nghĩa của vụ việc đối với Việt Nam
Trong vụ kiện DS397 này, vấn đề bị Trung Quốc kiện là bản
thân quy định tại Điều 9(5) Quy tắc về chống bán phá giá của EU (“as such”)
cũng như việc áp dụng quy định này trong vụ điều tra chốt sắt/thép (“as
applied”). Kiện “as such” sẽ buộc nước vi phạm phải sửa đổi bản thân quy định
liên quan chứ không chỉ đơn thuần là sửa các kết quả trong vụ việc cụ thể như
trong trường hợp chỉ kiện “as applied”.
Mà Điều 9(5) Quy tắc về chống bán phá giá của EU hiện là
điều khoản áp dụng chung cho tất cả các nước xuất khẩu NME. Vì vậy nếu thực thi
phán quyết của WTO, EU sẽ phải sửa đổi/hủy bỏ. Điều này cũng đồng nghĩa với việc
không chỉ Trung Quốc mà tất cả các nước xuất khẩu NME trong đó có Việt Nam cũng
sẽ không phải áp dụng Điều 9(5) nữa. Do đó, dù không trực tiếp tham gia với vai
trò là bên nguyên đơn hay bên thứ ba của vụ tranh chấp này, Việt Nam cũng được
hưởng kết quả phán quyết WTO trong vấn đề này.
Ngày
18/08/2011, EC cũng đã tuyên bố ý định thực thi các khuyến nghị của mình. Đây
là một tin vui cho các nhà xuất khẩu Việt Nam sang EU câu hỏi đặt ra là thời điểm
EC thực hiện khuyến nghị và việc sửa đổi quy định Pháp luật chống bán phá giá sẽ
như thế nào. Câu trả lời sẽ còn phụ thuộc rất nhiều vào thiện chí của EC, nhưng
kết quả của vụ việc rõ ràng là một sự kiện mở đường cho những nước như Việt Nam
để có thể bảo vệ tốt hơn lợi ích của mình trước những bất công trong thủ tục điều
tra chống bán phá giá đối với NME trong pháp luật của EU nói riêng và pháp luật
các nước khác nói chung.
Nguồn: Hội đồng Tư vấn về Phòng vệ Thương mại - VCCI
- Đăng nhập để gửi bài bình luận















