Vụ việc tư vấn số 14 - Thép Việt Nam bị điều tra CBPG và chống trợ cấp tại Hoa Kỳ - Phương án hành động cho các DN thép VN
Ngày
15/11/2011, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã ra quyết định khởi xướng điều tra chống
bán phá giá và chống trợ cấp đối với sản phẩm ống thép cac-bon tiêu chuẩn nhập
khẩu từ Việt Nam, Ấn Độ, Oman và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất. Quyết định
khởi xướng này được đưa ra sau khi có đơn kiệnngày 26/10/2011 của 4 công ty Hoa
Kỳ là Allied Tube & Conduit, JMC Steel Group, Wheatland Tube, và Tập đoàn
thép Hoa Kỳ. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp một số nội dung chính của cuộc điều
tra và khuyến nghị phương án hành động cho Hiệp hội và các doanh nghiệp thép Việt
Nam.
I.
Thông
tin chính của vụ kiện
Bên đệ đơn:
Ngày
26/10/2011, Công ty Allied Tube and Conduit, JMC Steel Group, Wheatland Tube,
và Tập đoàn Thép Hoa Kỳ (United States Steel Corporation) đã đệ đơn lên DOC yêu
cầu cơ quan này khởi xướng điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với
các sản phẩm ổng thép nhập khẩu từ Việt Nam, Ấn Độ, Oman và Các Tiểu Vương Quốc
Ả Rập.
Giai đoạn điều tra: DOC sẽ điều tra căn cứ vào các dữ liệu trong
giai đoạn:
Đối với điều tra chống trợ cấp: từ 01/01/2010 đến 31/12/2010 (áp dụng cho cả 4 nước: Việt Nam, Ấn Độ,
Oman và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập)
Đối với điều tra chống bán phá giá: từ 01/04/2011 đến 30/09/2011 (đối với Việt Nam) và từ 01/10/2010 đến
30/09/2011 (đối với Ấn Độ, Oman và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập)
Sản phẩm bị điều tra:
Các
loại ống và ống dẫn thép hàn cacbon có đường kính không quá 406.4mm, bất kể độ
dầy, bề mặt hay các thông số kỹ thuật, thường được gọi là ống tiêu chuẩn, ống, ống
dẫn hàng rào, ống nước và ống xây dựng. Đặc biệt, điều khoản “hàm lượng cacbon”
trong các sản phẩm phải đạt: (a) sắt chiếm ưu thế về hàm lượng; (b) hàm lượng
cacbon ít hơn hoặc bằng 2%; và không bao gồm một số chất và vượt quá số lượng,
hàm lượng được nêu chi tiết trong Đơn kiện
Các
sản phẩm bị nêu tên trong đơn kiện có mã HTSUS trong Biểu Hài hòa Thuế quan của
Hoa Kỳ là: 7306.19.1010; 7306.19.1050; 7306.19.5110; 7306.19.5150;
7306.30.1000; 7306.30.5025; 7306.30.5032; 7306.30.5040; 7306.30.5055;
7306.30.5085; 7306.30.5090; 7306.50.1000; 7306.50.5050 và 7306.50.5070. Tuy
nhiên, mô tả sản phẩm là yếu tố quyết định liệu hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ có nằm
trong phạm vi sản phẩm bị điều tra hay không.
Các Doanh nghiệp Việt Nam có liên quan:
Đơn
kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp này áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp
Việt Nam có xuất khẩu sản phẩm bị kiện sang Hoa Kỳ. Tuy vậy, Đơn kiện có nêu
đích danh (như là ví dụ) một số doanh nghiệp sau đây:
·
Asia Huu
Lien Joint Stock Co., Ltd.;
·
Daiwa
Lance International Company, Ltd.;
·
Hoa Phat
Steel Pipe Co.
·
Hoa Sen
Group;
·
Hyundai-Huy
Hoang Pipe;
·
SeAH
Steel Vina Corporation;
·
Tianjin
Lida Steel Pipe Group;
·
Vietnam
Germany Steel Pipe JSC (“VG-Pipe”)
·
Vinapipe;
·
Vingal
Industries Co., Ltd.
Các thời hạn dự kiến:
Căn
cứ vào pháp luật liên quan của Hoa Kỳ thì các thời hạn của vụ việc này dự kiến
sẽ như sau (chưa tính đến các thay đổi/gia hạn của cơ quan có thẩm quyền):
|
|
Điều tra
Chống bán phá giá |
Điều tra
Chống trợ cấp |
|
Ngày đệ đơn |
26/10/2011 |
26/10/2011 |
|
Ngày đưa ra quyết định khởi xướng |
15/11/2011 |
15/11/2011 |
|
Ngày ITC ban hành Bản câu hỏi sơ bộ |
02/11/2011 |
02/11/2011 |
|
Thời hạn trả lời Bản câu hỏi sơ bộ |
12/11/2011 |
12/11/2011 |
|
Họp nội bộ ITC |
16/11/2011 |
16/11/2011 |
|
Thời hạn công bố kết quả họp nội bộ ITC |
19/11/2011 |
19/11/2011 |
|
ITC ra quyết định sơ bộ về thiệt hại |
10/12/2011 |
10/12/2011 |
|
DOC ra quyết định sơ bộ |
23/05/2012 |
24/03/2012 |
|
DOC ra quyết định chính thức |
05/10/2012 |
05/10/2012 |
|
ITC ra quyết định chính thức |
19/11/2012 |
19/11/2012 |
II.
Phân
tích những yếu tố bất lợi và thuận lợi đối với Việt Nam trong vụ kiện
1.
Những
yếu tố bất lợi
-
Đây
là vụ kiện kép cả chống bán phá giá và chống trợ cấp: Điều
này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ phải bỏ gấp đôi thời gian, công sức và
tiền bạc để thuê luật sư tư vấn, chuẩn bị tài liệu, trả lời bảng câu hỏi, gửi bảng
câu hỏi….Và nếu kết luận cuối cùng dẫn đến việc áp cả hai loại thuế chống bán
phá giá và chống trợ cấp thì doanh nghiệp sẽ rơi vào tình cảnh “một cổ hai
tròng”, cùng lúc phải chịu hai thứ thuế, việc cạnh tranh tại thị trường Hoa Kỳ
vì vậy có thể sẽ khó khăn hơn nhiều.
Đối với một ngành chưa
từng có kinh nghiệm kháng kiện chống bán phá giá cũng như chống trợ cấp như
ngành thép thì việc cùng lúc phải đối phó với hai vụ kiện là điều rất khó khăn.
Trong khi đó, các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu mặt hàng bị điều tra lại chủ
yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên hệ thống kế toán chứng từ thường không đạt
tiêu chuẩn và nguồn lực dành cho những vụ kiện như thế này cũng không có nhiều
để theo kiện đầy đủ và hiệu quả.
-
Ngành
sản xuất thép Hoa Kỳ có “truyền thống” bảo hộ rất mạnh thông qua các biện pháp
phòng vệ thương mại: Trong số 365 vụ điều tra phòng vệ
thương mại của Hoa kỳ tính đến tháng 6/2011 thì có tới 136 vụ điều tra – tức là
hơn 1/3 số vụ liên quan đến thép và các sản phẩm từ thép. Trong đó, ống thép
cac-bon tiêu chuẩn đã từng nhiều lần bị kiện. Vụ đầu tiên là năm 2001, Hoa Kỳ
tiến hành điều tra chống bán phá giá đối với Trung Quốc, Indonesia, Malaysia,
Romania, Nam Phi nhưng sau đó do không có đủ bằng chứng về thiệt hại nên vụ kiện
chấm dứt mà không đi đến kết luận áp thuế. Lần thứ hai là năm 2007, Hoa Kỳ kiện
đồng thời chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với Trung Quốc. Kết quả là
thép cac-bon tiêu chuẩn của Trung Quốc bị áp thuế chống bán phá giá 69,2%-85,55%
, thuế chống trợ cấp 29,62-616,83%, các lệnh áp thuế này vẫn còn hiệu lực cho đến
bây giờ. Đây
cũng là một “án lệ” rất nguy hiểm mà Hoa Kỳ có thể áp dụng lại đối với Việt Nam
trong vụ việc này.
- Xuất khẩu ống thép sang Hoa Kỳ tuy
còn nhỏ nhưng có thể có triển vọng: Mặc dù hiện tại chưa
có số liệu thống kê đầy đủ về kim ngạch xuất khẩu ống thép cac-bon tiêu chuẩn của
Việt Nam sang Hoa Kỳ nhưng nói chung thép không phải là một sản phẩm xuất khẩu
chủ lực của Việt Nam, và ống thép cac-bon tiêu chuẩn cũng không phải là mặt
hàng xuất khẩu lớn trong số các sản phẩm thép xuất khẩu của Việt Nam. Tuy
nhiên, lượng xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng liên tục trong những năm gần đây cho thấy
đây có thể là một sản phẩm xuất khẩu triển vọng. Do đó, vụ kiện có thể tạo ra
những rào cản đáng kể cho năng lực cạnh tranh và khả năng tiếp cận thị trường
Hoa Kỳ của sản phẩm này. Đồng thời nó có thể tạo ra tâm lý không tốt cho doanh
nghiệp xuất khẩu các sản phẩm khác sang Hoa Kỳ khi mà “cứ hễ” sản phẩm nào xuất
khẩu nhanh và mạnh một chút là ngay lập tức phải đối mặt với nguy cơ bị kiện.
- Riêng đối với vụ kiện chống trợ cấp,
rủi ro và phạm vi tác động có thể vượt ra
ngoài phạm vi của sản xuất ống thép. Cụ thể, thường thì một chương trình bị
cáo buộc là trợ cấp gây thiệt hại có thể không chỉ áp dụng với một sản phẩm cụ
thể là đối tượng điều tra mà có thể áp dụng cùng lúc (hoặc có những điểm tương đồng
với các chương trình khác) cho nhiều sản phẩm khác trong ngành hoặc thậm chí với
nhiều ngành. Do đókết quả kháng kiện chống trợ cấp ở vụ thép có thể sẽ ảnh hưởng
không nhỏ đến kết quả các vụ kiện chống trợ cấp trong tương lai ở Hoa Kỳ đối với
hàng hóa xuất khẩu Việt Nam. Vì vậy dù ống thép tiêu chuẩn không phải (hoặc
chưa phải) là mũi nhọn xuất khẩu của Việt Nam, việc kháng kiện chống trợ cấp
trong vụ việc này vẫn cần phải được thực hiện cẩn trọng, tránh tạo ra những “án
lệ” bất lợi cho Việt Nam trong tương lai.
2.
Những
yếu tố thuận lợi:
- Kinh nghiệm và bài học rút ra từ vụ
kiện túi nhựa: Vì đây là lần thứ hai Việt Nam bị kiện
chống trợ cấp và cũng là lần thứ hai bị kiện kép chống trợ cấp và chống bán phá
giá nên ít nhiều chúng ta cũng đã rút ra được bài học kinh nghiệm từ vụ kiện
trước, đặc biệt là bài học về sự cách thức phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước và
doanh nghiệp, về các phương án đối phó đối với từng loại cáo buộc trợ cấp và
phá giá….
- Những lập luận thành công của Việt
Nam trong vụ kiện chống trợ cấp đối với túi nhựa PE trước DOC tạo tiền lệ tốt
cho Việt Nam trong các vụ điều tra chống trợ cấp sau tại Hoa Kỳ, trong đó có vụ
ống thép này: Trong các vụ điều tra chống trợ cấp đối
với các sản phẩm đến từ cùng một nước xuất khẩu, sẽ có những vấn đề có tính chất
giống nhau và một khi DOC đã có kết luận rõ ràng về một vấn đề nào đó thì khả
năng lớn là cơ quan này sẽ ra kết luận tương tự cho những vấn đề này ở các vụ
tiếp theo. Ở vụ túi nhựa, có hai nội
dung được xem là “thắng lợi” của Việt Nam và có tác động tốt đến vụ ống thép
này. Thứ nhất, ở vụ túi nhựa PE, Việt Nam đã đấu tranh thành công để DOC chấp
nhận coi ngày 11/01/2007, ngày Việt Nam chính thức gia nhập WTO, là mốc để chỉ
các trợ cấp sau ngày này mới bị xem là có thể bị khiếu kiện. Đây được xem là một
điểm thuận lợi cho Việt Nam bởi sau thời điểm 11/1/2007, Việt Nam đã bắt đầu thực
hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong khuôn khổ WTO, trong đó có việc loại bỏ các trợ
cấp không hợp pháp theo WTO. Và vì vậy nguy cơ Việt Nam bị cáo buộc trợ cấp
trái WTO sẽ được giảm bớt nhiều. Thứ hai, kết thúc điều tra vụ túi nhựa DOC đã bác
bỏ cáo buộc về nhiều chương trình trợ cấp mà nguyên đơn nêu và bỏ lửng kết luận
với một số chương trình trợ cấp khác. Trong vụ kiện chống trợ cấp thép lần này,
có khoảng 2/3 trong số các chương trình trợ cấp bị nguyên đơn cáo buộc có tính
chất tương tự với các chương trình đã bị kiện trong vụ Túi nhựa, vì vậy Việt
Nam hoàn toàn có thể sử dụng các lập luận tương tự vụ túi nhựa để áp dụng trong
trường hợp đã “thắng” trong vụ túi nhựa (tất nhiên với các dẫn chứng cụ thể của
ngành thép) và có điều kiện để tập trung nguồn lực nhiều hơn nhằm đối phó với
các chương trình trợ cấp bị cáo buộc mới xuất hiện trong vụ việc này hoặc đã xuất
hiện trong vụ túi nhựa nhưng DOC chưa có kết luận cuối cùng.
III.
Khuyến
nghị phương án hành động cho Hiệp hội và các doanh nghiệp ống thép Việt Nam
1.
Khuyến
nghị chung
- Sẵn sàng “sống chung với lũ”:
trong bối cảnh toàn cầu hóa và khủng hoảng kinh tế như hiện nay thì việc các nước
tăng cường sử dụng, thậm chí là lạm dụng các công cụ phòng vệ thương mại nhằm bảo
hộ cho sản xuất nội địa là một xu hướng có thể dự đoán được. Là một nước xuất
khẩu, Việt Nam phải chấp nhận thực tế này khi xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài,
đặc biệt là Hoa Kỳ, nơi có “truyền thống” kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp.
Vì vậy vấn đề chuẩn bị và có phương án thích hợp để có thể “sống chung với lũ”,
để vừa gia tăng xuất khẩu, vừa đối phó với nguy cơ bị kiện, và nếu vụ kiện xảy
ra thì kháng kiện và đạt kết quả tốt nhất chứ không phải là tranh luận về tính
công bằng hay không của các vụ kiện này.
-
Tích cực, chủ động tham gia
kháng kiện: Trong tất
cả các vụ kiện chống bán phá giá hay trợ cấp, ở tất cả các thị trường không chỉ
riêng Hoa Kỳ thì việc tham gia đầy đủ của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng để
bảo vệ lợi ích của mình. Bởi vì nếu doanh nghiệp không hợp tác đầy đủ với cơ
quan điều tra thì sẽ bị sử dụng các thông tin sẵn có bất lợi cho doanh nghiệp.
Kết quả là doanh nghiệp sẽ chịu mức thuế cuối cùng rất cao so với các doanh
nghiệp có tham gia và hợp tác đầy đủ.
-
Phối hợp đoàn kết giữa các
doanh nghiệp: Việc thống
nhất hành động giữa các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn được lựa
chọn làm bị đơn bắt buộc là rất cần thiết để đạt được kết quả cuối cùng tốt nhất
cho toàn ngành. Theo quy định của Hoa Kỳ thì chỉ có một số doanh nghiệp (thường
là doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất) được lựa chọn làm bị đơn bắt
buộc và được tính mức thuế suất riêng, mức thuế của các doanh nghiệp còn lại tự
nguyện hợp tác không được lựa chọn làm bị đơn bắt buộc sẽ được tính dựa trên mức
thuế của những doanh nghiệp được lựa chọn làm bị đơn bắt buộc. Vì vậy, các
doanh nghiệp cần có sự phối hợp với nhau cả về phương hướng hành động lẫn nguồn
lực vật chất để đảm bảo kết quả cuối cùng đảm bảo lợi ích cho tất cả các doanh
nghiệp.
|
Trong vụ kiện chống bán phá
giá, chống trợ cấp đối với túi nhựa Việt Nam tại Hoa Kỳ, cả ba doanh nghiệp
được lựa chọn làm bị đơn bắt buộc đều là các doanh nghiệp FDI. Trong giai đoạn
đầu điều tra, cả ba doanh nghiệp này đều tham gia đầy đủ và đạt được biên độ chống
bán phá giá, chống trợ cấp sơ bộ tương đối thấp. Tuy nhiên, đến giai đoạn điều
tra cuối cùng, một doanh nghiệp đã bỏ cuộc và đóng cửa nhà máy tại Việt Nam,
một doanh nghiệp khác tuy vẫn tích cực hợp tác nhưng lại không cung cấp đủ
thông tin và thông tin đưa ra cũng không thống nhất. Kết quả là hai doanh
nghiệp này bị áp dụng thông tin sẵn có bất lợi để tính biên độ phá giá/trợ cấp
dẫn đến mức thuế cuối cùng rất cao, kéo theo mức thuế chung của các doanh
nghiệp còn lại cũng rất cao. |
-
Phối hợp chặt chẽ với cơ quan
nhà nước có thẩm quyền: Mặc dù kết quả cuối cùng của một vụ kiện chống trợ cấp có tác động
trực tiếp đến doanh nghiệp nhưng vai trò của Nhà nước trong quá trình kháng kiện
là rất quan trọng bởi Nhà nước là một bên
của vụ kiện, là đối tượng cung cấp các hình thức trợ cấp bị điều tra. Tuy
nhiên, để xác định mức độ trợ cấp cơ quan điều tra cũng lấy thông tin từ phía
các doanh nghiệp – đối tượng được hưởng các trợ cấp này. Vì vậy, doanh nghiệp cần
phối hợp với Nhà nước để cung cấp thông tin một cách thống nhất và có lợi.
2.
Khuyến
nghị cụ thể
-
Các
doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu sản phẩm ống thép bị điều tra, hiệp hội Thép Việt
Nam cùng với cơ quan Nhà nước quản lý về vấn đề này (Cục quản lý cạnh tranh – Bộ
Công Thương) cần sớm thống nhất được phương thức hành động chung thích hợp.
-
Sớm thống
nhất việc lựa chọn thuê luật sư để hỗ trợ Chính phủ và doanh nghiệp trong vụ việc
này. Kinh nghiệm từ các vụ kiện trước cho thấy nên thuê luật sư tại chính nước
điều tra và có nhiều kinh nghiệm trong việc hỗ trợ các nước bị điều tra kháng
kiện thành công.
-
Nhanh
chóng tập hợp số liệu xuất khẩu của từng doanh nghiệp để xác định doanh nghiệp
nào có lượng xuất khẩu mặt hàng bị điều tra sang Hoa Kỳ lớn nhất vì thường cơ
quan điều tra sẽ lựa chọn các doanh nghiệp này làm bị đơn bắt buộc. Như đã nói ở
trên, việc tham gia kháng kiện của các bị đơn bắt buộc là rất quan trọng, ảnh
hưởng đến các doanh nghiệp còn lại. Do đó cần xây dựng phương án đối phó riêng
cho các doanh nghiệp này.
-
Các
doanh nghiệp không được lựa chọn làm bị đơn bắt buộc nên tham gia vào vụ kiện với
tư cách là bị đơn tự nguyện bằng cách gửi thông tin tự giới thiệu mình với cơ
quan điều tra và trả lời bảng câu hỏi điều tra.
-
Trong suốt
quá trình điều tra, đặc biệt là điều tra về trợ cấp, doanh nghiệp cần phối hợp
chặt chẽ với Nhà nước để cung cấp thông tin một cách thống nhất và hiệu quả.
-
Ngoài
ra, doanh nghiệp cần tư vấn và hỗ trợ trực tiếp có thể liên hệ với Hội đồng Tư
vấn về Chống bán phá giá, Chống trợ cấp và Tự vệ (Hội đồng TRC) của Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trang web www.chongbanphagia.vn.
Nguồn: Hội đồng Tư vấn về Phòng vệ Thương mại - VCCI
- Đăng nhập để gửi bài bình luận















