Giải quyết tranh chấp số DS211

07/01/2015 12:00 - 1275 lượt xem

Ai Cập — Biện pháp chống phá giá cuối cùng với thép rebar nhập khẩu từ Thổ Nhĩ Kỳ

Tiêu đề:

Ai Cập – Thép Rebar

Nguyên đơn:

Thổ Nhĩ Kỳ

Bị đơn:

Ai Cập

Các bên thứ ba:

Chile, EC, Nhật Bản, Hoa Kỳ 

Các hiệp định liên quan (được đưa ra trong yêu cầu tham vấn)

Hiệp định ADA (Điều VI của GATT 1994): Phụ lục I, Phụ lục II, Điều 3.1, 3.2, 3.4, 3.5,6.1, 6.2, , 6.7, 6.8, 2, 2.2, 2.4; GATT 1994: Điều X, X:3

Ngày nhận được yêu cầu tham vấn:

06 tháng 11 năm 2000

Ngày đạt được thỏa thuận chung

08 tháng 08 năm 2002



Bản tóm tắt cập nhật về vụ kiện

Bản tóm tắt được cập nhật ngày 24 tháng 02 năm 2010

Thamvấn

Ngày 21/10/1999, Ai Cập ban ra Quyết định cuối cùng về mứcthuế chống bán phá giá chính thức áp dụng đối với thép rebar (steel rebar) nhậpkhẩu từ Thổ Nhĩ Kỳ là từ 22,63% – 61%.

Ngày 06/11/2000, Thổ Nhĩ Kỳ yêu cầu tham vấn với Ai Cập vềcuộc điều tra chống bán phá trên. Cụ thể, Thổ Nhĩ Kỳ cho rằng:

-Trong quá trình điều tra, Ai Cập đã không xác lập đượccác bằng chứng thích đáng, hợp lý mà dựa trên những bằng chứng chủ quan, thiếucông bằng để xác định hành vi bán phá giá cũng như thiệt hại;

-Trong điều tra về thiệt hại đáng kể hay đe doạ gây rathiệt hại đáng kể và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nhập khẩu phá giá và thiệthại, Ai Cập đã vi phạm các Điều 3.1, 3.2, 3.4, 3.5, 6.1 và 6.2 của Hiệp địnhADA; và

-Trong điều tra các giao dịch bán hàng với giá thấp hơngiá trị thông thường, Ai Cập đã vi phạm Điều X:3 của GATT 1994, cũng như các Điều2.2, 2.4, 6.1, 6.2, 6.6, 6.7 và 6.8, và Phụ lục II, đoạn 1, 3, 5, 6 và 7 và Phụlục I, đoạn 7 của Hiệp định ADA.

Giaiđoạn hội thẩm

Thànhlập Ban Hội thẩm

Tham vấn giữa hai bên không thành công, do đó, ngày03/05/2001, Thổ Nhĩ Kỳ yêu cầu DSB thành lập Ban Hội thẩm để giải quyết tranhchấp này. Tại cuộc họp ngày 16/05/2001, DSB trì hoãn việc thành lập Ban Hội thẩm. Tuy nhiên, tại cuộc họp ngày20/06/2001, DSB đã quyết định thành lập Ban Hội thẩm sau yêu cầu lần thứ hai củaThổ Nhĩ Kỳ. Ngày 18/07/2001, thành phần của Ban Hội thẩm đã được xác định.

Chi lê, EC, Nhật và Hoa Kỳ yêu cầu được tham gia vào vụkiện với tư cách là bên thứ ba.

Thôngqua Báo cáo của Ban Hội thẩm

Ngày 08/08/2002, Ban Hội thẩm gửi Báo cáo tới các Thànhviên trong đó kết luận:

Ai Cậpkhông vi phạm:

a.         Điều 3.4của Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằng Cơ quan điều tra củaAi Cập đã được yêu cầu kiểm tra và đánh giá một số nhân tố cụ thể mà Thổ Nhĩ Kỳxác định là “các nhân tố liên quan ảnh hưởng tới tình trạng của ngành sản xuấttrong nước”;

b.         Điều 3.2của Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằng Cơ quan điều tra củaAi Cập có nghĩa vụ tiến hành phân tích sự giảm giá theo cách mà Thổ Nhĩ Kỳ đãyêu cầu;

c.         Điều 3.1của Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằng Cơ quan điều tra Ai Cậpđã đưa ra kết luận về sự giảm giá mà không dựa trên các chứng cứ xác thực.

d.         Điều 6.1và 6.2 của Hiệp định ADA liên quan đến việc Ai Cập đã không thông báo cho cácnhà xuất khẩu Thổ Nhĩ Kỳ về việc  thay đổi  phạm vi điều tra từ điều tra nguy cơ gây rathiệt hại đáng kể sang điều tra thiệt hại thiệt hại đáng kể

e.         Điều 3.1và 3.5 của Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằng Cơ quan điềutra Ai Cập đã vi phạm các yêu cầu về bằng chứng xác thực quy định tại Điều 3.1khi không điều tra khách quan các bằng chứng về hàng nhập khẩu và các ảnh hưởngđến ngành sản xuất trong nước, và do đó cũng không chứng minh được rằng Ai Cậpđã vi phạm  Điều 3.5 về chứng minh mốiquan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại gây ra đối vớingành sản xuất trong nước;

f.          Điều 3.5của Hiệp định ADA:  Thổ Nhĩ Kỳ đã khôngchứng minh được rằng những đánh giá của Cơ quan điều tra Ai Cập về khả năng thiệthại có thể là do các nhân tố khác ngoài nhân tố hàng nhập khẩu bán phá giá làvi phạm Điều 3.5;

g.         Điều 3.1và 3.5 của Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằng theo quy định tạiĐiều 3.1 và 3.5, Cơ quan điều tra Ai Cập phải tiến hành phân tích và đưa ra kếtluận về việc hàng nhập khẩu có gây thiệt hại “thông qua tác động của phá giá” hay không;

h.         Điều 6.8và đoạn 5, Phụ lục II, Hiệp định ADA: Cơ quan điều tra của Ai Cập đã khách quanvà công bằng khi cho rằng 3 nhà xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ đã không cung cấp nhữngthông tin cần thiết và do đó phải sử dụng đến các thông tin sẵn có để tính toánchi phí sản xuất của 03 nhà xuất khẩu này;

i.          Điều6.1.1 của Hiệp định ADA: yêu cầu cung cấp thông tin  không có nghĩa là một “bảng câu hỏi” theo Điềunày, và do đó, khoảng thời gian tối thiểu theo quy định tại Điều 6.1.1 không ápdụng đối với yêu cầu cung cấp thông tin này;

j.          Điều 6.2hay đoạn 6, Phụ lục II, Hiệp định ADA, liên quan đến yêu cầu ngày 19/08/1999 củaCơ quan điều tra Ai Cập về việc cung cấp thông tin, Thổ Nhĩ Kỳ đã không chứngminh được rằng thời hạn cung cấp thông tin theo yêu cầu của Cơ quan này làkhông hợp lý hoặc đã không chứng minh được rằng, vì thế, Cơ quan điều tra Ai Cậpđã không cho các nhà xuất khẩu Thổ Nhĩ Kỳ cơ hội đầy đủ để tự bảo vệ lợi ích củamình;

k.         Điều 6.2, hay đoạn 6, Phụ lục II, Hiệp định ADA, liên quan đến yêu cầu ngày 23/09/1999về việc cung cấp thông tin, Thổ Nhĩ Kỳ đã không chứng minh được rằng thời hạncung cấp thông tin theo yêu cầu của Cơ quan điều tra Ai Cập là không hợp lý hoặc,vì thế, Cơ quan điều tra Ai Cập đã không cho các nhà xuất khẩu Thổ Nhĩ Kỳ cơ hộiđầy đủ để tự bảo vệ lợi ích của mình;

l.          Đoạn 3,Phụ lục II, Hiệp định ADA: bởi vì điều khoản này không áp dụng đối với  việc lựa chọn một số thông tin là “thông tinsẵn có”;

m.        Đoạn 7, Phụlục II, Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằng Cơ quan điều traAi Cập đã không “đặc biệt thận trọng” khi tính toán tỉ lệ lạm phát hiện thời ởThổ Nhĩ Kỳ mà sử dụng số liệu 5%/tháng do một bị đơn cung cấp;

n.         Điều 6.7,đoạn 7, Phụ lục I và đoạn 1 và 6, Phụ lục II, Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ đãkhông chứng minh được rằng những điều khoản này quy định những nghĩa vụ mà theođó Ai Cập phải thực hiện. Ví dụ :Thổ Nhĩ Kỳ đã không chứng minh được rằng (i)cơ quan điều tra bắt buộc  phải tiến hànhthẩm tra “tại chỗ”  thông tin do các bênđệ trình, (ii) cơ quan điều tra không được yêu cầu cung cấp thêm thông tintrong suốt quá trình điều tra, (iii) cơ quan điều tra đã xâm hại nghiêm trọngquyền lợi của các nhà xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ, hay (iv) Cơ quan điều tra đãkhông tạo “cơ hội cung cấp thêm các lập luận giải thích” cho các nhà xuất khẩu;

o.         Điều 2.4của Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằng Cơ quan điều tra Ai Cậpđã áp dụng các yêu cầu khắt khe về cung cấp chứng cứ theo như quy định trong điềukhoản trên đối với  yêu cầu cung cấp cácthông tin về chi phí trong Công văn gửi ngày 19/08/1999, và dù nếu yêu cầu đóđược áp dụng, cũng không chứng minh được rằng, yêu cầu đó đã gây ra khó khăn bấthợp lý cho các bị đơn trong việc cung cấp bằng chứng; 

p.         Điều 6.2và đoạn 6 của Phụ lục II, Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằngCơ quan điều tra Ai Cập đã từ chối yêu cầu tham vấn của các nhà xuất khẩu ThổNhĩ Kỳ;

q.         Điều 2.4của Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không đưa ra được một bằng chứng thực tế để chứngminh Cơ quan điều tra của Ai Cập đã vi phạm điều khoản trên khi không thực hiệnviệc điều chỉnh về giá trị thông thường cho những khác biệt về điều kiện bánhàng.

r.          Điều2.2.1.1 và 2.2.2 của Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không đưa ra được bằng chứng thựctế nào chứng minh rằng Cơ quan điều tra Ai Cập đã vi phạm những điều khoản trênkhi quyết định không trừ đi phần lợi tức khi tính chi phí sản xuất và trị giátính toán; và

s.         Điều X:3của GATT 1994: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằng Ai Cập đã thực thi các luật,quy định, quyết định hay nguyên tắc liên quan của mình một cách không thống nhất,không công bằng hay không hợp lý khi quyết định không chấp nhận đề nghị của mộtsố bị đơn muốn đến hội đàm tại Cairo với Cơ quan điều tra.

Ai Cậpvi phạm:

t.          Điều 3.4của Hiệp định ADA: khi thu thập dữ liệu về các nhân tố gây thiệt hại đến ngànhsản xuất trong nước, Cơ quan điều tra Ai Cập đã không xem xét tất cả cácnhân  tố được liệt kê tại Điều 3.4, cụ thểlà các nhân tố năng suất, tác động tiêu cực thực tế và tiềm ẩn đối với dòng lưuchuyển tiền tệ, việc làm, tiền lương và khả năng huy động vốn hay đầu tư; và

u.         Điều 6.8và đoạn 6 của Phụ lục II, Hiệp định ADA: sau khi nhận được thông tin của hainhà xuất khẩu Thổ Nhĩ Kỳ và đã xác nhận lại là cần thiết, Cơ quan điều tra Ai Cậpmới phát hiện ra rằng hai công ty này đã không cung cấp những thông tin cần thiết;tuy nhiên sau đó, Cơ quan này đã  khôngthông báo lại với họ về phát hiện của mình và do đó không cho họ cơ hội cung cấpthêm các giải thích trước khi phải sử dụng đến các thông tin sẵn có

Đối với những khiếu nại của Thổ Nhĩ Kỳ không được đề cậpđến ở trên, Ban Hội thẩm kết luận:

v.         Khiếu nạiđó, hoặc là không thuộc điều khoản tham chiếu (khiếu nại theo Điều 17.6(i) Hiệpđịnh ADA Điều X:3 GATT 1994 liên quan đến việc chọn thông tin sẵn có), hoặc đãbị Thổ Nhĩ Kỳ bỏ đi (khiếu nại theo Điều X:3 liên quan đến việc sử dụng thôngtin sẵn có); hay

w.         Dựa trênnhững phán quyết về các vấn đề trước đó, không cần thiết hoặc không thích hợp đểđưa ra các kết luận nữa.

Ban Hội thẩm khuyến nghị Ai Cập sửa đổi các biện pháp chốngphá giá chính thức mà nước này áp dụng đối với thép rebar nhập khẩu từ Thổ NhĩKỳ cho phù hợp với các Điều khoản liên quan của Hiệp định ADA

Ngày 01/10/2002, DSB thông qua Báo cáo của Ban Hội thẩm.

Thựcthi

Ngày 14/11/2002, Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ thông báo với Chủ tịchDSB rằng hai bên đã đạt được thoả thuận về khoảng thời gian hợp lý để Ai Cập thựcthinhững khuyến nghị và phán quyết của DSB là không quá 9 tháng, tức là từ ngày01/11/2002 đến ngày 31/07/2003.

Quảng cáo sản phẩm