Vụ kiện số DS211
|
Tiêu đề: |
Ai Cập – Thép Rebar |
|
Nguyên đơn:
|
Thổ Nhĩ Kỳ |
|
Bị đơn: |
Ai Cập |
|
Các bên thứ ba: |
Chile, EC, Nhật Bản, Hoa Kỳ |
|
Các hiệp định liên quan (được đưa ra trong
yêu cầu tham vấn) |
Hiệp định ADA (Điều VI của GATT 1994): Phụ
lục I, Phụ lục II, Điều 3.1, 3.2, 3.4, 3.5,6.1, 6.2, , 6.7, 6.8, 2, 2.2, 2.4;
GATT 1994: Điều X, X:3 |
|
Ngày nhận được yêu cầu tham vấn: |
06 tháng 11 năm 2000 |
|
Ngày đạt được thỏa thuận chung |
08 tháng 08 năm 2002 |
Bản tóm tắt cập nhật về vụ kiện
Bản tóm tắt được cập nhật ngày 24 tháng 02 năm 2010
Tham
vấn
Ngày 21/10/1999, Ai Cập ban ra Quyết định cuối cùng về mức
thuế chống bán phá giá chính thức áp dụng đối với thép rebar (steel rebar) nhập
khẩu từ Thổ Nhĩ Kỳ là từ 22,63% – 61%.
Ngày 06/11/2000, Thổ Nhĩ Kỳ yêu cầu tham vấn với Ai Cập về
cuộc điều tra chống bán phá trên. Cụ thể, Thổ Nhĩ Kỳ cho rằng:
-Trong quá trình điều tra, Ai Cập đã không xác lập được
các bằng chứng thích đáng, hợp lý mà dựa trên những bằng chứng chủ quan, thiếu
công bằng để xác định hành vi bán phá giá cũng như thiệt hại;
-Trong điều tra về thiệt hại đáng kể hay đe doạ gây ra
thiệt hại đáng kể và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nhập khẩu phá giá và thiệt
hại, Ai Cập đã vi phạm các Điều 3.1, 3.2, 3.4, 3.5, 6.1 và 6.2 của Hiệp định
ADA; và
-Trong điều tra các giao dịch bán hàng với giá thấp hơn
giá trị thông thường, Ai Cập đã vi phạm Điều X:3 của GATT 1994, cũng như các Điều
2.2, 2.4, 6.1, 6.2, 6.6, 6.7 và 6.8, và Phụ lục II, đoạn 1, 3, 5, 6 và 7 và Phụ
lục I, đoạn 7 của Hiệp định ADA.
Giai
đoạn hội thẩm
Thành
lập Ban Hội thẩm
Tham vấn giữa hai bên không thành công, do đó, ngày
03/05/2001, Thổ Nhĩ Kỳ yêu cầu DSB thành lập Ban Hội thẩm để giải quyết tranh
chấp này. Tại cuộc họp ngày 16/05/2001, DSB
trì hoãn việc thành lập Ban Hội thẩm. Tuy nhiên, tại cuộc họp ngày
20/06/2001, DSB đã quyết định thành lập Ban Hội thẩm sau yêu cầu lần thứ hai của
Thổ Nhĩ Kỳ. Ngày 18/07/2001, thành phần của Ban Hội thẩm đã được xác định.
Chi lê, EC, Nhật và Hoa Kỳ yêu cầu được tham gia vào vụ
kiện với tư cách là bên thứ ba.
Thông
qua Báo cáo của Ban Hội thẩm
Ngày 08/08/2002, Ban Hội thẩm gửi Báo cáo tới các Thành
viên trong đó kết luận:
Ai Cập
không vi phạm:
a. Điều 3.4
của Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằng Cơ quan điều tra của
Ai Cập đã được yêu cầu kiểm tra và đánh giá một số nhân tố cụ thể mà Thổ Nhĩ Kỳ
xác định là “các nhân tố liên quan ảnh hưởng tới tình trạng của ngành sản xuất
trong nước”;
b. Điều 3.2
của Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằng Cơ quan điều tra của
Ai Cập có nghĩa vụ tiến hành phân tích sự giảm giá theo cách mà Thổ Nhĩ Kỳ đã
yêu cầu;
c. Điều 3.1
của Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằng Cơ quan điều tra Ai Cập
đã đưa ra kết luận về sự giảm giá mà không dựa trên các chứng cứ xác thực.
d. Điều 6.1
và 6.2 của Hiệp định ADA liên quan đến việc Ai Cập đã không thông báo cho các
nhà xuất khẩu Thổ Nhĩ Kỳ về việc thay đổi phạm vi điều tra từ điều tra nguy cơ gây ra
thiệt hại đáng kể sang điều tra thiệt hại thiệt hại đáng kể
e. Điều 3.1
và 3.5 của Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằng Cơ quan điều
tra Ai Cập đã vi phạm các yêu cầu về bằng chứng xác thực quy định tại Điều 3.1
khi không điều tra khách quan các bằng chứng về hàng nhập khẩu và các ảnh hưởng
đến ngành sản xuất trong nước, và do đó cũng không chứng minh được rằng Ai Cập
đã vi phạm Điều 3.5 về chứng minh mối
quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại gây ra đối với
ngành sản xuất trong nước;
f. Điều 3.5
của Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ đã không
chứng minh được rằng những đánh giá của Cơ quan điều tra Ai Cập về khả năng thiệt
hại có thể là do các nhân tố khác ngoài nhân tố hàng nhập khẩu bán phá giá là
vi phạm Điều 3.5;
g. Điều 3.1
và 3.5 của Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằng theo quy định tại
Điều 3.1 và 3.5, Cơ quan điều tra Ai Cập phải tiến hành phân tích và đưa ra kết
luận về việc hàng nhập khẩu có gây thiệt hại
“thông qua tác động của phá giá” hay không;
h. Điều 6.8
và đoạn 5, Phụ lục II, Hiệp định ADA: Cơ quan điều tra của Ai Cập đã khách quan
và công bằng khi cho rằng 3 nhà xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ đã không cung cấp những
thông tin cần thiết và do đó phải sử dụng đến các thông tin sẵn có để tính toán
chi phí sản xuất của 03 nhà xuất khẩu này;
i. Điều
6.1.1 của Hiệp định ADA: yêu cầu cung cấp thông tin không có nghĩa là một “bảng câu hỏi” theo Điều
này, và do đó, khoảng thời gian tối thiểu theo quy định tại Điều 6.1.1 không áp
dụng đối với yêu cầu cung cấp thông tin này;
j. Điều 6.2
hay đoạn 6, Phụ lục II, Hiệp định ADA, liên quan đến yêu cầu ngày 19/08/1999 của
Cơ quan điều tra Ai Cập về việc cung cấp thông tin, Thổ Nhĩ Kỳ đã không chứng
minh được rằng thời hạn cung cấp thông tin theo yêu cầu của Cơ quan này là
không hợp lý hoặc đã không chứng minh được rằng, vì thế, Cơ quan điều tra Ai Cập
đã không cho các nhà xuất khẩu Thổ Nhĩ Kỳ cơ hội đầy đủ để tự bảo vệ lợi ích của
mình;
k. Điều 6.2
, hay đoạn 6, Phụ lục II, Hiệp định ADA, liên quan đến yêu cầu ngày 23/09/1999
về việc cung cấp thông tin, Thổ Nhĩ Kỳ đã không chứng minh được rằng thời hạn
cung cấp thông tin theo yêu cầu của Cơ quan điều tra Ai Cập là không hợp lý hoặc,
vì thế, Cơ quan điều tra Ai Cập đã không cho các nhà xuất khẩu Thổ Nhĩ Kỳ cơ hội
đầy đủ để tự bảo vệ lợi ích của mình;
l. Đoạn 3,
Phụ lục II, Hiệp định ADA: bởi vì điều khoản này không áp dụng đối với việc lựa chọn một số thông tin là “thông tin
sẵn có”;
m. Đoạn 7, Phụ
lục II, Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằng Cơ quan điều tra
Ai Cập đã không “đặc biệt thận trọng” khi tính toán tỉ lệ lạm phát hiện thời ở
Thổ Nhĩ Kỳ mà sử dụng số liệu 5%/tháng do một bị đơn cung cấp;
n. Điều 6.7,
đoạn 7, Phụ lục I và đoạn 1 và 6, Phụ lục II, Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ đã
không chứng minh được rằng những điều khoản này quy định những nghĩa vụ mà theo
đó Ai Cập phải thực hiện. Ví dụ :Thổ Nhĩ Kỳ đã không chứng minh được rằng (i)
cơ quan điều tra bắt buộc phải tiến hành
thẩm tra “tại chỗ” thông tin do các bên
đệ trình, (ii) cơ quan điều tra không được yêu cầu cung cấp thêm thông tin
trong suốt quá trình điều tra, (iii) cơ quan điều tra đã xâm hại nghiêm trọng
quyền lợi của các nhà xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ, hay (iv) Cơ quan điều tra đã
không tạo “cơ hội cung cấp thêm các lập luận giải thích” cho các nhà xuất khẩu;
o. Điều 2.4
của Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằng Cơ quan điều tra Ai Cập
đã áp dụng các yêu cầu khắt khe về cung cấp chứng cứ theo như quy định trong điều
khoản trên đối với yêu cầu cung cấp các
thông tin về chi phí trong Công văn gửi ngày 19/08/1999, và dù nếu yêu cầu đó
được áp dụng, cũng không chứng minh được rằng, yêu cầu đó đã gây ra khó khăn bất
hợp lý cho các bị đơn trong việc cung cấp bằng chứng;
p. Điều 6.2
và đoạn 6 của Phụ lục II, Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằng
Cơ quan điều tra Ai Cập đã từ chối yêu cầu tham vấn của các nhà xuất khẩu Thổ
Nhĩ Kỳ;
q. Điều 2.4
của Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không đưa ra được một bằng chứng thực tế để chứng
minh Cơ quan điều tra của Ai Cập đã vi phạm điều khoản trên khi không thực hiện
việc điều chỉnh về giá trị thông thường cho những khác biệt về điều kiện bán
hàng.
r. Điều
2.2.1.1 và 2.2.2 của Hiệp định ADA: Thổ Nhĩ Kỳ không đưa ra được bằng chứng thực
tế nào chứng minh rằng Cơ quan điều tra Ai Cập đã vi phạm những điều khoản trên
khi quyết định không trừ đi phần lợi tức khi tính chi phí sản xuất và trị giá
tính toán; và
s. Điều X:3
của GATT 1994: Thổ Nhĩ Kỳ không chứng minh được rằng Ai Cập đã thực thi các luật,
quy định, quyết định hay nguyên tắc liên quan của mình một cách không thống nhất,
không công bằng hay không hợp lý khi quyết định không chấp nhận đề nghị của một
số bị đơn muốn đến hội đàm tại Cairo với Cơ quan điều tra.
Ai Cập
vi phạm:
t. Điều 3.4
của Hiệp định ADA: khi thu thập dữ liệu về các nhân tố gây thiệt hại đến ngành
sản xuất trong nước, Cơ quan điều tra Ai Cập đã không xem xét tất cả các
nhân tố được liệt kê tại Điều 3.4, cụ thể
là các nhân tố năng suất, tác động tiêu cực thực tế và tiềm ẩn đối với dòng lưu
chuyển tiền tệ, việc làm, tiền lương và khả năng huy động vốn hay đầu tư; và
u. Điều 6.8
và đoạn 6 của Phụ lục II, Hiệp định ADA: sau khi nhận được thông tin của hai
nhà xuất khẩu Thổ Nhĩ Kỳ và đã xác nhận lại là cần thiết, Cơ quan điều tra Ai Cập
mới phát hiện ra rằng hai công ty này đã không cung cấp những thông tin cần thiết;
tuy nhiên sau đó, Cơ quan này đã không
thông báo lại với họ về phát hiện của mình và do đó không cho họ cơ hội cung cấp
thêm các giải thích trước khi phải sử dụng đến các thông tin sẵn có
Đối với những khiếu nại của Thổ Nhĩ Kỳ không được đề cập
đến ở trên, Ban Hội thẩm kết luận:
v. Khiếu nại
đó, hoặc là không thuộc điều khoản tham chiếu (khiếu nại theo Điều 17.6(i) Hiệp
định ADA Điều X:3 GATT 1994 liên quan đến việc chọn thông tin sẵn có), hoặc đã
bị Thổ Nhĩ Kỳ bỏ đi (khiếu nại theo Điều X:3 liên quan đến việc sử dụng thông
tin sẵn có); hay
w. Dựa trên
những phán quyết về các vấn đề trước đó, không cần thiết hoặc không thích hợp để
đưa ra các kết luận nữa.
Ban Hội thẩm khuyến nghị Ai Cập sửa đổi các biện pháp chống
phá giá chính thức mà nước này áp dụng đối với thép rebar nhập khẩu từ Thổ Nhĩ
Kỳ cho phù hợp với các Điều khoản liên quan của Hiệp định ADA
Ngày 01/10/2002, DSB thông qua Báo cáo của Ban Hội thẩm.
Thực
thi
Ngày 14/11/2002, Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ thông báo với Chủ tịch
DSB rằng hai bên đã đạt được thoả thuận về khoảng thời gian hợp lý để Ai Cập thực
thinhững khuyến nghị và phán quyết của DSB là không quá 9 tháng, tức là từ ngày
01/11/2002 đến ngày 31/07/2003.















