Vụ kiện số DS122
Thái Lan – Thuế chống bán phá giá với thép phi hợp kim dạng góc,
khối và rầm chữ H nhập khẩu từ Ba Lan
|
Tiêu đề: |
Thái Lan – rầm chữ H
|
|
Bên thưa kiện: |
Ba Lan |
|
Bên bị đơn: |
Thái Lan |
|
Các bên thứ ba: |
Cộng đồng Châu Âu, Nhật Bản, Hoa Kỳ
|
|
Ngày nhận được yêu cầu tham vấn: |
06 tháng 04 năm 1998 |
|
Ngày lưu hành báo cáo của Ban hội thẩm |
28 tháng
9 năm 2000 |
|
Ngày lưu hành báo cáo của bên kháng án |
12 tháng
3 năm 2001 |
Bản tóm tắt cập nhật về vụ kiện
Bản tóm
tắt được cập nhật ngày 24 tháng 02 năm 2010
Báo
cáo được thông qua của Cơ quan Phúc thẩm và Ban Hội thẩm
Do Ba Lan khởi kiện.
Vào ngày 6 tháng 4 năm 1998, Ba Lan yêu cầu tham vấn với
Thái Lan liên quan đến việc áp đặt thuế chống bán phá giá cuối cùng với thép
phi hợp kim dạng góc, khối và rầm chữ H. Ba Lan khẳng định rằng các mức thuế
chống bán phá giá tạm thời do Thái Lan áp đặt vào ngày 27 tháng 12 năm 1996 và mức
thuế chống bán phá giá cuối cùng bằng 27,79% giá CIF của những sản phẩm này, do
bất cứ nhà sản xuất hay xuất khẩu Ba Lan nào sản xuất hay xuất khẩu, sẽ được áp
dụng từ ngày 26 tháng 5 năm 1997. Ba Lan cũng khẳng định thêm rằng Thái Lan đã
từ chối hai yêu cầu của Ba Lan trong việc công khai các dữ liệu. Ba Lan cho
rằng những hành động của Thái Lan vi phạm Điều 2, 3, 5 và 6 của Hiệp định Chống
bán phá giá.
Vào ngày 13 tháng 10 năm 1999, Ba Lan yêu cầu thành lập Ban
hội thẩm. Tại cuộc họp vào ngày 27 tháng 10 năm 1999, Cơ quan Giải quyết tranh
chấp đã trì hoãn việc thành lập ban hội thẩm. Sau yêu cầu lần thứ hai của Ba
Lan, Cơ quan Giải quyết tranh chấp thành lập ban hội thẩm tại phiên họp ngày 19
tháng 11 năm 1999. Cộng đồng Châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ bảo lưu các quyền của bên
thứ ba. Vào ngày 20 tháng 12 năm 1999, Ban hội thẩm được thành lập. Báo cáo
được ban hành tới các thành viên vào ngày 28 tháng 12 năm 2000. Ban hội thẩm
kết luận rằng:
i.
Ba Lan đã không chứng minh được rằng Thái Lan đã thực hiện không
nhất quán với những nghĩa vụ đã cam kết theo Điều 2 Hiệp định Chống bán phá giá
hay Điều VI GATT 1994 khi tính toán lợi nhuận trong giá thông thường tính toán.
ii.
Việc Thái Lan áp đặt biện pháp chống bán phá giá cuối cùng
với mặt hàng rầm chữ H nhập khẩu từ Ba Lan là không nhất quán với Điều 3 của Hiệp
định Chống bán phá gián, cụ thể là:
ü
Không nhất quán với câu thứ hai Điều 3.2 và Điều 3.1: nhà
chức trách Thái Lan không xem xét ảnh hưởng của giá hàng nhập khẩu bán phá giá
dựa trên “việc xác minh khách quan” “các chứng cứ tích cực” trên cơ sở thực tế
được đưa ra;
ü
Không nhất quán với Điều 3.4 và 3.1: cơ quan điều tra Thái
Lan đã không xem xét các nhân tố được nêu ở Điều 3.4, và không đưa ra những
giải thích cần thiết về cách thức xác định thiệt hại trên cơ sở “đánh giá khách
quan hoặc không thiên lệch” hay “kiểm tra khách quan” “các chứng cứ có lợi” dựa
trên cơ sở thực tế được đưa ra; và
ü
Không nhất quán với Điều 3.5 và 3.1: nhà chức trách Thái
Lan đưa ra phán quyết về mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu phá giá và
bất cứ sự thiệt hại có thể xảy ra dựa trên cơ sở (a) những kết luận về ảnh
hưởng của giá hàng nhập khẩu bán phá giá, mà theo Ban hội thẩm những kết luận
này không nhất quán với câu thứ hai của Điều 3.2 và Điều 3.1; và (b) những kết
luận về thiệt hại, mà theo Ban hội thẩm những kết luận này không nhất quán với
Điều 3.4 và 3.1.
iii.
theo Điều 3.8 của Quy tắc Giải quyết tranh chấp, trong
trường hợp có sự vi phạm các nghĩa vụ cam kết trong các hiệp định, sự vi phạm
này được coi là chứng cứ đầy đủ cho hành vi gây thiệt hại tới các lợi ích có
được theo các hiệp định đó. Do vậy, khi Thái Lan hành động không nhất quán với
các quy định của Hiệp định Chống bán phá giá, nước này đã gây thiệt hại tới
những lợi ích mà Ba Lan có thể có được theo quy định của Hiệp định này.
Vào ngày 23 tháng 10 năm 2000, Thái Lan thông báo với Cơ
quan Giải quyết tranh chấp về quyết định kháng án một số vấn đề về luật nêu
trong Báo cáo của Ban hội thẩm và các cách diễn giải luật do Ban hội thẩm đưa
ra. Cơ quan Phúc thẩm cũng lưu hành báo cáo của mình vào ngày 12 tháng 3 năm
2001. Báo cáo nêu:
§
Cơ quan Phúc thẩm đồng tình với kết luận của Ban hội thẩm về
những khiếu nại theo Điều 2, 3 và 5 của Hiệp định Chống bán phá giá, yêu cầu
thành lập ban hội thẩm của Ba Lan trong trường hợp này tuân thủ Điều 6.2 của Quy
tắc Giải quyết tranh chấp;
§
Cơ quan Phúc thẩm bác bỏ kết luận của Ban Hội thảo rằng
Hiệp định Chống bán phá giá yêu cầu một ban hội thẩm khi xem xét lại quyết định
áp dụng thuế chống bán phá giá giá chỉ được xem xét các thực tế, chứng cứ và
lập luận mà các công ty Ba Lan đã biết hoặc đã được thông báo vào thời điểm có
kết luận cuối cùng về việc bán phá giá. Cơ quan Phúc thẩm cho rằng lập luận nói
trên của Ban Hội thẩm là không có căn cứ dù là trong Điều 3.1 Hiệp định (quy
định về nghĩa vụ của các thành viên trong việc ra kết luận về thiệt hại) cũng
như trong Điều 17.6 Hiệp định (quy định về cách thức xem xét và giải quyết
tranh chấp của Ban Hội thẩm).
§
Mặc dù đã thay đổi cách lập luận của Ban hội thẩm, nhưng điều
này không ảnh hưởng tới những kết luận chính của Ban hội thẩm về hành vi vi
phạm;
§
Đồng tình với kết luận của Ban hội thẩm theo Điều 3.4 của Hiệp
định Chống bán phá giá. Cơ quan Phúc thẩm đồng ý với Ban hội thẩm rằng Điều 3.4
quy định nghĩa vụ phải đánh giá tất cả các nhân tố được nêu trong Điều đó;
§
Kết luận rằng Ban hội thẩm không hề sai sót trong việc áp
đặt nghĩa vụ chứng minh, hoặc áp dụng tiêu chuẩn rà soát theo Điều 17.6(i) của Hiệp
định Chống bán phá giá.
Tại cuộc họp ngày 5 tháng 4 năm 2001, Cơ quan Giải quyết
tranh chấp đã thông qua bản báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm và báo cáo đã sửa đổi
của Ban hội thẩm.
Tình trạng thực thi các báo cáo đã thông qua
Thái Lan thông báo với Cơ quan Giải
quyết tranh chấp rằng nước này đang trong quá trình thực hiện khuyến nghị của Cơ
quan Giải quyết tranh chấp và cần một khoảng thời gian hợp lý để thực hiện. Ba
Lan nhắc lại rằng để thực hiện các khuyến nghị của Cơ quan Giải quyết tranh
chấp, Thái Lan cần phải thu hồi lại các thuế hiện hành. Nếu không, Ba Lan sẽ áp
dụng Điều 21.5 của Quy tắc Giải quyết tranh chấp. Ba Lan đã sẵn sàng tham gia
tham vấn với Thái Lan về một khoảng thời gian hợp lý cho việc thực hiện. Ngày
21 tháng 5 năm 2001, các bên liên quan thông báo với Cơ quan Giải quyết tranh
chấp rằng họ đã thỏa thuận được khoảng thời gian hợp lý là 6 tháng và 15 ngày
và do vậy thời hạn thực hiện sẽ kết thúc vào ngày 20 tháng 10 năm 2001.
Tại cuộc họp của Cơ quan Giải quyết
tranh chấp ngày 18 tháng 12 năm 2001, Thái Lan thông báo rằng nước này đã thực
hiện đầy đủ khuyến nghị của Cơ quan Giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên Ba Lan
không chấp nhận cách Thái Lan thực hiện các khuyến nghị của Cơ quan Giải quyết
tranh chấp vì theo Ba Lan, các biện pháp đang bị điều tra cần được sửa đổi hoặc
bãi bỏ. Theo quan điểm của Ba Lan, Thái Lan chỉ mới thay đổi lý do áp dụng các
biện pháp. Ba Lan giữ nguyên quyền của mình theo Điều 21. 5 của Quy tắc Giải
quyết tranh chấp.
Ngày 18 tháng 12 năm 2001, Thái Lan và
Ba Lan đã thoả thuận sơ bộ về cách thức áp dụng Điều 21 và 22 của Quy tắc Giải
quyết tranh chấp. Theo thỏa thuận này, trong trường hợp áp dụng Điều 21.5 và 22
của Quy tắc Giải quyết tranh chấp, Ba Lan đồng ý thực hiện đầy đủ Điều 21.5
trước khi áp dụng Điều 22. Ngày 21 tháng 1 năm 2002, các bên thông báo với Cơ
quan Giải quyết tranh chấp về việc hai bên đã đạt được thỏa thuận rằng việc
thực hiện các khuyến nghị của Cơ quan Giải quyết tranh chấp trong vụ kiện này
sẽ không còn trong chương trình nghị sự của Cơ quan Giải quyết tranh chấp.















