Giải quyết tranh chấp số DS253

12/06/2014 09:43 - 1333 lượt xem

Mỹ – Các biện pháp tự vệ chính thức đối với mặt hàng thép thành phẩm nhập khẩu.

Tiêu đề

Mỹ - biện pháp tự vệ đối với thép
Nguyên đơn: Thụy Sỹ
Bị đơn: Mỹ
Bên thứ ba: Braxin, Canada, Trung Quốc, Đài Loan, Cuba, Cộng đồng Châu Âu (EC), Nhật Bản, Hàn Quốc, Mexico, New Zealand, Nauy, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Venezuela
Yêu cầu tham vấn ngày: 03 tháng 04 năm 2002
Báo cáo của Ban Hội thẩm ban hành: 11 tháng 07 năm 2003
Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm ban hành: 10 tháng 11 năm 2003

Bản tóm tắt cập nhật vụ kiện:
Bản tóm tắt cập nhật vụ kiện tới ngày 21 tháng 01 năm 2009:
Thông qua báo cáo của Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm
Khiếu kiện của Cộng đồng Châu Âu (EC) (WT/DS248);
Khiếu kiện của Nhật Bản (WT/DS249);
Khiếu kiện của Hàn Quốc (WT/DS251);
Khiếu kiện của Trung Quốc (WT/DS252);
Khiếu kiện của Thụy Sỹ (WT/DS253);
Khiếu kiện của Nauy (WT/DS254);
Khiếu kiện của New Zealand (WT/DS258);
Khiếu kiện của Braxin (WT/DS259).
Ngày 07/03/2002, Cộng đồng Châu Âu (EC) yêu cầu tham vấn với Mỹ về việc áp đặt biện pháp tự vệ chính thức dưới hình thức tăng thuế nhập khẩu đối với thép cán (flat steel), thép cuộn nóng (hot-rolled bar), thép lạnh thành phẩm (cold-finished bar), thép gia cố (rebar), thép ống hợp kim (certain welded tubular products), thép hợp kim các bon (carbon and alloy fittings), thép thanh không gỉ (stainless steel bar), thép dây không gỉ (stainless steel wire) và dưới hình thức hạn ngạch thuế quan đối với thép tấm có hiệu lực từ ngày 20/03/2002. EC cho rằng các biện pháp kể trên của Mỹ vi phạm các nghĩa vụ của quốc gia này theo Hiệp định về biện pháp tự vệ và GATT 1994, cụ thể vi phạm các điều khoản 2.1, 2.2 ,3.1, 3.2, 4.1, 4.2, 5.1, 5.2, 7.1 và 9.1 của Hiệp định về biện pháp tự vệ và các điều khoản I:1, XIII và XIX:1 của GATT 1994. EC cũng giữ quyền liên quan tới việc theo đuổi vụ kiện theo Hiệp định về biện pháp tự vệ và Quy tắc Giải quyết Tranh chấp trong WTO (DSU).
Ngày 14/03/2002, Nhật và Hàn Quốc yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 15/03/2002, Thụy Sỹ và Canada cũng yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 20/03/2002, Venezuela yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 21/03/2002, Nauy và Trung Quốc đồng thời yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 22/03/2002, Mexico yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 25/03/2002, New Zealand cũng yêu cầu tham gia tham vấn. Mỹ thông báo với DSB rằng nước này chấp thuận tham vấn của các quốc gia Canada, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mexico, New Zealand, Nauy, Thụy Sỹ và Venezuela.
Ngày 20/03/2002, Nhật Bản (WT/DS249) yêu cầu tham vấn với Mỹ về biện pháp tự vệ chính thức Mỹ áp dụng đối với thép thành phẩm và khiếu nại Mỹ vi phạm các Điều khoản 2.1, 2.2, 3.1, 3.2, 4.1, 4.2, 5.1, 7.1, 7.4. 8.1, 12.1, 12.2, 12.3 của Hiệp định về biện pháp tự vệ và các Điều khoản I:1, II, X:3, XIII và XIX:2 của GATT 1994. Ngày 27/03, Nauy yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 05/04, Mexico cũng yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 09/04/2002, New Zealand yêu cầu tham gia tham vấn. Mỹ thông báo với DSB rằng nước này chấp thuận đề nghị tham vấn của Mexico, New Zealand và Nauy.
Ngày 20/03/2002, Hàn Quốc (WT/DS251) yêu cầu tham vấn với Mỹ về biện pháp tự vệ chính thức Mỹ áp dụng đối với thép thành phẩm và khiếu nại các luật liên quan của Mỹ, bao gồm mục 201 và 202 của Bộ luật thương mại Mỹ 1974 và mục 311 của Luật thực thi NAFTA. Hàn Quốc khiếu nại Mỹ vi phạm các Điều 2.1, 2.2, 3, 4, 5, 7.1, 7.4, 8.1, 9.1 và 12 của Hiệp định về biện pháp tự vệ và các Điều X:3 và XIX:1 của GATT 1994 và điều khoản XVI:4 của Hiệp định Marrakesh . Ngày 27/03, Nhật Bản và Nauy yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 05/04, Mexico và New Zealand yêu cầu tham gia tham vấn. Mỹ thông báo với DSB rằng nước này chấp thuận đề nghị tham vấn của Nhật Bản, Mexico, New Zealand và Nauy.
Ngày 26/03/2002, Trung Quốc (WT/DS252) yêu cầu tham vấn với Mỹ về biện pháp tự vệ cuối cùng Mỹ áp dụng đối với thép thành phẩm và khiếu nại Mỹ vi phạm các Điều khoản 2.1, 2.2, 3.1, 3.2, 4.1, 4.2, 5.1, 5.2, 7.1, 8.1, 9.1 và 12  của Hiệp định về biện pháp tự vệ và các Điều khoản I:1, II, X:3, XIX:1 và XIX:2  của GATT 1994. Ngày 04/04, Nhật Bản yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 05/04, New Zealand yêu cầu tham gia tham vấn. Mỹ thông báo với DSB chấp thuận đề nghị tham vấn của Nhật Bản và New Zealand.
Ngày 03/04/2002, Thụy Sỹ (WT/DS253) yêu cầu tham vấn với Mỹ về biện pháp tự vệ chính thức Mỹ áp dụng đối với thép thành phẩm và khiếu nại Mỹ vi phạm các Điều khoản 2.1, 2.2, 3, 4.1, 4.2, 5.1, 7.1, 8.1 và 12 của Hiệp định về  biện pháp tự vệ và các Điều khoản I:1 và XIX:1của GATT 1994. Ngày 11/04, New Zealand yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 15/04, Nhật Bản yêu cầu tham gia tham vấn. Mỹ thông báo với DSB chấp thuận đề nghị tham vấn của Nhật Bản và New Zealand.
Ngày 04/04/2002, Nauy (WT/DS254) yêu cầu tham vấn với Mỹ về biện pháp tự vệ chính thức Mỹ áp dụng đối với thép thành phẩm và khiếu nại Mỹ vi phạm các Điều khoản 3, 4.1, 4.2, 5.1, 7, 8.1, 9.1 và 12 của Hiệp định về biện pháp tự vệ và các Điều khoản I:1, II, X:3 và XIX của GATT 1994. Ngày 11/04, New Zealand yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 15/04, Nhật Bản yêu cầu tham gia tham vấn. Mỹ thông báo với DSB chấp thuận đề nghị tham vấn của Nhật Bản và New Zealand.
Ngày 14/05/2002, New Zealand (WT/DS258) yêu cầu tham vấn với Mỹ về biện pháp tự vệ chính thức Mỹ áp dụng đối với thép thành phẩm và khiếu nại Mỹ vi phạm các Điều khoản 2.1, 2.2, 3.1, 3.2, 4.1, 4.2, 5.1, 7, 8.1 và 12 của Hiệp định về biện pháp tự vệ và các Điều khoản I:1, X và XIX:1 của GATT 1994. Ngày 24/05, EC yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 27/05, Nhật Bản yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 30/05, Hàn Quốc yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 31/05, Nauy, Trung Quốc và Mexico yêu cầu tham gia tham vấn. Mỹ thông báo với DSB chấp thuận đề nghị tham vấn của Trung Quốc, EC, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mexico và Nauy.
Ngày 21/05/2002, Braxin (WT/DS259) yêu cầu tham vấn với Mỹ về biện pháp tự vệ chính thức Mỹ áp dụng đối với thép thành phẩm. Ngày 24/05, EC yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 27/05, Nhật Bản yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 30/05, Hàn Quốc yêu cầu tham gia tham vấn. Ngày 31/05, Nauy, Trung Quốc và Mexico yêu cầu tham gia tham vấn. Mỹ thông báo với DSB chấp thuận đề nghị tham vấn của Trung Quốc, EC, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mexico và Nauy.
Đối với từng yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm của mỗi tám nguyên đơn tại các cuộc họp của DSB:
• Ngày 03/06/2002 – EC tuyên bố biện pháp tự vệ của Mỹ vi phạm Điều khoản 2.1, 3.1, 4.2(a), 4.2(b), 4.2(c) và 5.1 của Hiệp định về biện pháp tự vệ và điều khoản XIX:1 của GATT 1994;
• Ngày 14/06/2002 – Nhật Bản tuyên bố biện pháp tự vệ của Mỹ vi phạm Điều khoản 2, 3, 4 và 5 của Hiệp định về biện pháp tự vệ và điều khoản I:1, X:3 và XIX:1  của GATT 1994. Hàn Quốc tuyên bố biện pháp tự vệ của Mỹ vi phạm Điều khoản 2, 3, 4, 5, 7.1, 8.1, 9.1 và 12của Hiệp định về biện pháp tự vệ và điều khoản X:3, XIII và XIX của GATT 1994.
• Ngày 24/06/2002 – Trung Quốc tuyên bố biện pháp tự vệ của Mỹ vi phạm Điều khoản 2.1, 3.1, 4.1, 4.2, 5.1, 5.2, 8.1, 9.1 và 12 của Hiệp định về biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế và Điều khoản I:1, II và XIX của GATT 1994. Thụy Sỹ tuyên bố biện pháp tự vệ của Mỹ vi phạm Điều khoản 2.1, 2.2, 3.1, 4, 5.1 và 8.1  của Hiệp định về biện pháp tự vệ và Điều khoản XIX:1 của GATT 1994. Nauy tuyên bố biện pháp tự vệ của Mỹ vi phạm Điều khoản 2, 3, 4, 5.1, 7.1 và 9.1 của Hiệp định về biện pháp tự vệ và Điều khoản I:1, X:3(a) và XIX của GATT 1994.
• Ngày 08/07/2002 – New Zealand tuyên bố biện pháp tự vệ của Mỹ vi phạm Điều khoản 2.1, 2.2, 3.1, 4.2, 5.1, 7 và 8.1 của Hiệp định về biện pháp tự vệ và Điều khoản X:3(a) và XIX:1  của GATT 1994.
• Ngày 29/07/2002 – Braxin tuyên bố biện pháp tự vệ của Mỹ vi phạm điều khoản 2.1, 2.2, 3.1, 4 và 5 của Hiệp định về biện pháp tự vệ và Điều khoản I:1, X:3 và XIX:1 của GATT 1994.
DSB đã thành lập Ban Hội thẩm theo thỏa thuận giữa các bên và theo Điều khoản 9.1 của Quy tắc Giải quyết tranh chấp trong WTO (DSU).
Các thành viên tham gia với tư cách là bên thứ 3 trong Ban Hội thẩm thành lập theo yêu cầu của các bên cũng được coi là bên thứ 3 của Ban Hội thẩm riêng này. Canada, Đài Loan, Cuba, Malaixia, Mexico, Thái Lan, Thổ Nhỹ Kỳ và Venezuela tham gia vào quá trình hoạt động của Ban với tư cách là bên thứ 3.
Ngày 15/07/2002, DSB nhận thông báo thỏa thuận thủ tục giữa Mỹ và EC, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thụy  Sỹ, Nauy và New Zealand. Ngày 18/07/2002, DSB được thông báo về thỏa thuận thủ tục giữa Mỹ và Braxin.
Ngày 15/07/2002, EC, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thụy Sỹ, Nauy và New Zealand yêu cầu chủ tịch  DSB xác định cơ cấu của Ban Hội thẩm. Ngày 25/07/2002, cơ cấu của ban được xác định.
Ngày 23/10/2002, Malayxia quyết định rút khỏi danh sách bên thứ 3 tham gia vụ kiện.
Ngày 20/02/2003, chủ tịch ban thông báo với DSB rằng ban không thể hoàn tất công việc trong 6 tháng do khối lượng, tính phức tạp và nhạy cảm của vụ kiện cả về mặt pháp lý và thực tế. Ban dự kiến sẽ hoàn tất công việc vào cuối tháng 04/2003.
Ngày 11/07/2003, Ban Hội thẩm công bố báo cáo tới các thành viên. Báo cáo kết luận rằng tất cả các biện pháp tự vệ của Mỹ đưa ra trong vụ kiện đều không phù hợp với một trong những điều kiện được áp dụng biện pháp tự vệ sau đây của WTO: không chứng minh được (i) sự phát triển không lường trước được, (ii) sự gia tăng hàng nhập khẩu, (iii) quan hệ nhân quả, (iv) quan hệ tương đương. Do vậy Ban Hội thẩm yêu cầu Mỹ phải sửa đổi lại các biện pháp này cho phù hợp với nghĩa vụ của nước này theo Hiệp định về biện pháp tự vệ và GATT 1994.
Ngày 11/08/2003, Mỹ thông báo ý định kháng cáo về các vấn đề  pháp lý và giải thích pháp luật trong báo cáo của Ban Hội thẩm.
Ngày 08/10/2003, chủ tịch Cơ quan Phúc thẩm thông báo với DSB rằng Cơ quan Phúc thẩm không thể đưa ra báo cáo trong vòng 60 ngày như yêu cầu và Cơ quan ước tính muộn nhất là 10/11/2003 sẽ công bố báo cáo tới các thành viên WTO.
Ngày 10/11/2003, Cơ quan Phúc thẩm ban hành báo cáo tới các thành viên. Cơ quan Phúc thẩm tán thành kết luận cuối cùng của Ban Hội thẩm rằng biện pháp tự vệ nêu ra trong vụ kiện của Mỹ vi phạm các nghĩa vụ của nước này theo Điều khoản XIX:1(a) của GATT 1994 và Hiệp định về biện pháp tự vệ. Cơ quan Phúc thẩm phản đối kết luận của ban rằng Mỹ đã không lý giải đầy đủ và hợp lý “sư gia tăng hàng nhập khẩu” và mối quan hệ nhân quả giữa sự gia tăng hàng nhập khẩu với thiệt hại nghiêm trọng đối với 2 trong số 10 biện pháp tự vệ. Tuy nhiên cuối cùng các biện pháp này cũng được chứng minh là vi phạm Hiệp định WTO.
Tại cuộc họp ngày 10/12/2003, DSB thông qua báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm và báo cáo của Ban Hội thẩm do Cơ quan Phúc thẩm sửa đổi.
Tình hình thực thi các báo cáo đã thông qua
Tại cuộc họp ngày 10/12/2003, Mỹ thông báo với các thành viên rằng ngày 04/12/2003, tổng thống Mỹ đã ban hành một tuyên cáo rằng sẽ xóa bỏ tất cả các biện pháp tự vệ nêu trong vụ kiện theo mục 204 của Bộ luật thương mại Mỹ 1974.
Mặc dù tất cả các khiếu nại của 8  nguyên đơn được coi là một khiếu nại trong quá trình tham vấn, Mỹ vẫn yêu cầu Ban Hội thẩm ban hành 8 báo cáo riêng biệt, thể hiện quyền giải quyết vấn đề với từng nguyên đơn theo WTO. Các nguyên đơn quyết liệt phản đối yêu cầu này của Mỹ, cho rằng điều này sẽ làm chậm lại tiến độ đưa ra báo cáo của Ban Hội thẩm. Ban Hội thẩm quyết định ban hành báo cáo dưới dạng “một tài liệu bao gồm 8 báo cáo”. Do vậy, tài liệu này được coi là gồm 8 báo cáo liên quan với nhau trong vụ kiện này. Tài liệu gồm một trang giới thiệu chung, một phần miêu tả chung và một phần nêu lên các kết luận. Tuy nhiên, tài liệu này bao gồm các kết luận và các khuyến nghị được cụ thể hóa cho từng đối tượng nguyên đơn với các con số riêng. Theo quan điểm của Ban Hội thẩm, phương pháp này tôn trọng quyền của tất cả các bên đồng thời đảm bảo giải quyết vụ kiện nhanh chóng và hiệu quả.

Quảng cáo sản phẩm