Nội dung tọa đàm ‘EVFTA – Cao tốc hiện đại nối liền Việt Nam-EU’

25/03/2020 12:00 - 71 lượt xem

Ngày 23/3, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức cuộc tọa đàm trực tuyến với chủ đề “EVFTA – Cao tốc hiện đại nối liền Việt Nam - EU”.

Ngày 12/2/2020 vừa qua, Nghị viện châu Âu đã chính thức bỏ phiếu phê chuẩn EVFTA. Hiệp định này còn chờ Quốc hội Việt Nam thông qua, dự kiến vào tháng 6 năm nay. Nếu Quốc hội thông qua và Việt Nam kịp làm thủ tục thông báo với Liên minh châu Âu, thì có thể ngay từ thời điểm 1/7/2020, EVFTA chính thức đi vào thực thi.

Được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc ví như “đường cao tốc quy mô lớn”, giúp đẩy nhanh tốc độ và quy mô hợp tác, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và EU, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - châu Âu (EVFTA) được kỳ vọng mang lại rất nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp và người dân hai bên.

Đối với Việt Nam, tuyến đường cao tốc này sẽ đưa hàng hóa trong nước đến châu Âu và đón dòng hàng chất lượng cao, vốn đầu tư từ hướng ngược lại.

Tuy vậy, không có con đường nào chỉ “trải toàn hoa hồng”, EVFTA mang lại cơ hội lớn song thách thức cũng không nhỏ, nhất là trong bối cảnh gặp khó khăn trên thị trường thế giới do những ảnh hưởng từ đại dịch COVID-19. Cần làm gì để vượt chướng ngại trên "đường cao tốc" EVFTA nối Việt Nam với Liên minh châu Âu là câu hỏi đang rất được quan tâm.

Nhằm thông tin, phân tích về vấn đề này, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức cuộc tọa đàm “EVFTA – Cao tốc hiện đại nối liền Việt Nam - EU” với sự tham dự của các vị khách mời:

- Ông Lương Hoàng Thái, Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương.

- Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).

Phát biểu khi chứng kiến Việt Nam và EU chính thức ký hiệp định gồm Hiệp định thương mại tự do, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh “EVFTA là đường cao tốc quy mô lớn nối liền Việt Nam - EU”. Từ đó, các chuyên gia kinh thế, học giả và báo chí cũng thường nhắc đến EVFTA gắn liền với hình ảnh trên. Xin các khách mời hãy phân tích rõ hơn về nhận định này của Thủ tướng?

Ông Lương Hoàng Thái: Trước đây, khi chúng ta hội nhập kinh tế quốc tế, một trong những mốc quan trọng là gia nhập tổ chức thương mại thế giới. Khi đó, hội nhập thương mại quốc tế thường được so sánh với đi ra biển lớn và quy tắc của hiệp định thương mại thời đó về cơ bản dựa trên những quy tắc đa phương như vậy. Nhưng trong giai đoạn gần đây, quan hệ hợp tác về kinh tế thương mại giữa các nước đã có những thay đổi cơ bản. Ngoài việc áp dụng quy tắc đa phương còn có hợp tác giữa khu vực với khu vực hoặc giữa một nước với một khu vực hoặc một nước với một nước tức là có những quan hệ chặt chẽ hơn ở góc độ song phương. Hiệp định thương mại giữa Việt Nam-EU chính là kết nối giữa hai nền kinh tế của EU và Việt Nam. Trong lễ ký kết, Thủ tướng đã ví với hình tượng đường cao tốc; điều đó thể hiện đây là ký kết ở cấp độ cao hơn rất nhiều so với kết nối thông thường bởi vì Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU là một trong những hiệp định thương mại tư do tiêu chuẩn rất cao. Chính vì vậy, nó được so với đường cao tốc để thúc đẩy quan hệ hợp tác chặt chẽ, mạnh mẽ hơn giữa Việt Nam và EU.

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Trước khi bắt đầu, tôi xin chia sẻ với cộng đồng doanh nghiệp về những khó khăn mà các doanh nghiệp đang phải gánh chịu do sức ép từ dịch COVID-19. Tôi rất mong các doanh nghiệp cố gắng vượt qua giai đoạn này để chúng ta tiếp tục được giai đoạn sau. Tôi hy vọng Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU sẽ là một trong những con đường để doanh nghiệp thoát ra khi dịch bệnh được kiểm soát trên toàn cầu. 

Về hình ảnh EVFTA như đường cao tốc nối liền Việt Nam và EU, tôi nghĩ đây là một so sánh thú vị và nhiều hàm ý. Ví với hình ảnh đường cao tốc bởi nó thuận lợi, nhanh, không có rào cản, nếu có thì rất ít rào cản. Với con đường này, chúng ta hy vọng hàng hóa của chúng ta có thể đến đích nhanh hơn các đối thủ khác. Ngoài ra, cũng giống như một con đường cao tốc, không phải loại xe nào cũng đi được trên con đường đó, cho nên không phải doanh nghiệp nào cũng có thể tận dụng được mà phải có sự chuẩn bị để đáp ứng những điều kiện nhất định mới có thể sử dụng được. Bên cạnh đó, một đường cao tốc thì phải có phí ngoài những trường hợp ưu tiên. Đa phần các doanh nghiệp sẽ mất chi phí nào đó cho việc điều chỉnh sản xuất của mình cũng như là thay đổi để đáp ứng với điều kiện nhất định thì mới có thế đi trên con đường cao tốc đó. Con đường đó có vận hành tốt hay không, vấn đề ở các trạm thu phí như thế nào, có được bảo trì, bảo dưỡng thường xuyên không? Đấy là câu chuyện của các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc làm thế nào để con đường đó vận hành được tốt. Cuối cùng, con đường đó có tấp nập hay không, tôi cho rằng nó phụ thuộc vào nhu cầu của hai bên. Hiện nay, dịch COVID-19 đang hoành hành nên nhu cầu thị trường bị giảm sút đi. Tuy nhiên, sau khi dịch này đi qua thì có thể nhu cầu này còn lớn hơn nữa. Vì vậy, hiệp định này có hiệu lực vào thời điểm đó thì sẽ là một cú hích rất tốt.

Đã 1 tháng kể từ khi Nghị viện châu Âu chính thức bỏ phiếu phê chuẩn EVFTA. Trong kỳ họp Chính phủ thường kỳ tháng 2 vừa qua, dù nước ta và bối cảnh chung toàn cầu là ứng phó dịch bệnh COVID-19 nhưng Thủ tướng vẫn dành sự quan tâm đặc biệt đến EVFTA và yêu cầu phải tập trung, gấp rút hoàn tất các bước còn lại để EVFTA có thể được đưa vào thực thi hiệu quả. Tiến độ của các công tác này hiện nay ra sao, thưa ông?

Ông Lương Hoàng Thái: Một trong những cách giúp doanh nghiệp khôi phục đó là tạo ra những thị trường để phần nào trang trải được khó khắn cho doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do với liên minh châu Âu vẫn đang được thúc đẩy rất mạnh mẽ. Hồ sơ đang được trình và đang lấy ý kiến của các thành viên Chính phủ. Chúng tôi cũng hy vọng Chính phủ sớm có được Nghị quyết chính thức thông qua bộ hồ sơ này để từ đó trình sang Chủ tịch nước và trình sang Quốc hội để có thể kịp cho phiên họp Quốc hội vào cuối tháng 5.

Song song với quá trình đó, các bộ, ngành cũng phải thúc đẩy mạnh mẽ công tác chuẩn bị về mặt pháp lý để có thể thực thi ngay khi Hiệp định này chính thức có hiệu lực. Bên cạnh đó, rất nhiều công tác chuẩn bị khác từ việc xây dựng năng lực của các cơ quan quản lý Nhà nước; chuẩn bị cho doanh nghiệp để có thể tận dụng được cơ hội. Hiệp định chỉ tạo ra tiền đề để chúng ta có khả năng sử dụng cơ hội còn việc sử dụng như thế nào thì tùy thuộc rất nhiều ở năng lực bản thân của các cơ quan quản lý Nhà nước cũng như doanh nghiệp của chúng ta và phần nào quan tâm của doanh nghiệp EU. Khi có đầy đủ các nhân tố đó thì chúng ta mới có thể tận dụng được thành công Hiệp định.

EVFTA được đánh giá là thị trường minh bạch, rộng lớn và nhiều thuận lợi, nhưng bên cạnh đó, cũng không ít khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam để tuân thủ những quy tắc khác nhau về hàng rào kỹ thuật, chất lượng, xuất xứ... của Liên minh châu Âu. Xin bà cho biết ý kiến của mình về vấn đề này?

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Có 2 vấn đề mà chúng ta phải phân biệt một cách rõ ràng đó là quy tắc xuất xứ và tiêu chuẩn kĩ thuật, hàng rào vệ sinh an toàn thực phẩm.

Quy tắc xuất xứ là điều kiện để doanh nghiệp có thể được hưởng ưu đãi thuế quan. Nếu hàng hóa không đáp ứng quy tắc xuất xứ vẫn có thể được xuất khẩu sang châu Âu như bình thường nhưng không được hưởng những ưu đãi này.

Nhóm thứ hai là về các tiêu chuẩn kỹ thuật hay hàng rào vệ sinh an toàn thực phẩm. Đấy là nhóm các quy định áp dụng chung cho tất cả và nếu hàng hóa không đáp ứng được những yêu cầu đó thì không thể nhập khẩu vào EU. Đây là những rào cản khiến cho hàng hóa của mình khó vào được EU.

Trong thời gian vừa qua, chúng ta gặp khó khăn ở thị trường Trung Quốc do dịch COVID-19 nhưng việc chuyển hàng hóa ấy sang những thị trường khác để bán, thậm chí với giá cao hơn, thì lại rất khó có thể thực hiện được. Lý do là bởi những hàng hóa đó không được thiết kế, sản xuất theo hướng bảo đảm những yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm mà các thị trường khác yêu cầu.

EU là một thị trường khó tính với các tiêu chuẩn chất lượng và an toàn thực phẩm cao. Mặc dù vậy cũng có những điểm thuận lợi nhất định. Ví dụ các yêu cầu của EU rất rõ ràng, minh bạch, cần là có thể tìm hiểu được, đáp ứng được là có thể nhập khẩu.   Hơn nữa, EU là một khối chung, các quy định về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật đối với hàng nhập khẩu từ ngoài khối vào đây cơ bản là thống nhất. Trong bối cảnh như thế, chúng ta còn dễ đáp ứng hơn là 27 nước mỗi nước một yêu cầu khác nhau. Ngoài ra, đây cũng không phải thị trường xa lạ, rất nhiều doanh nghiệp của chúng ta đã và đang đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm để nhập khẩu hàng hóa vào thị trường này. Những kinh nghiệm này hoàn toàn có thể được chia sẻ, lan tỏa, để nhiều hơn nữa doanh nghiệp có thể đáp ứng và hưởng lợi khi xuất khẩu vào đây.

Cuối cùng, tất cả những điều mà chúng ta đang nói ở đây là những điều kiện, yêu cầu tối thiểu, bắt buộc mà EU đặt ra. Chúng ta còn chưa nói đến các yêu cầu của khách hàng EU, nó còn cao hơn các yêu cầu tối thiểu của các cơ quan nhà nước nhiều. Vì thế, các doanh nghiệp khi chúng ta nỗ lực cải thiện được chất lượng, mẫu mã và rất nhiều những yếu tố khác nữa thì nó không chỉ là vượt qua hàng rào bắt buộc của các cơ quan nhà nước phía EU để vào được thị trường EU mà nó còn là quá trình để chúng ra chinh phục khách hàng.

Được biết, Bộ Công Thương đang gấp rút hoàn tất dự thảo sửa đổi Thông tư về xuất xứ hàng hóa để có thể ban hành trong tháng 5, trước khi EVFTA trình Quốc hội thông qua (dự kiến vào tháng 6 năm nay). Xin ông thông tin rõ hơn về vấn đề này và theo ông, Thông tư về xuất xứ hàng hóa được sửa đổi, hoàn thiện sẽ tác động như thế nào trong trường hợp EVFTA đi vào thực thi?

Ông Lương Hoàng Thái: Nếu không đáp ứng được quy tắc xuất xứ này thì chúng ta sẽ hưởng thuế phổ thông như tất cả các nước khác. Nếu như chúng ta đạt được quy tắc xuất xứ, nghĩa là có một sản xuất nhất định ở Việt Nam thì khi đó sẽ được hưởng ưu đãi, tùy các nhóm mặt hàng mà quy tắc xuất xứ này khác nhau.

Trong quá trình đàm phán, chúng ta xác định mục tiêu không phải là đấu tranh để áp dụng quy tắc xuất xứ dễ, bởi trong nhiều trường hợp nếu áp dụng quy tắc xuất xứ dễ quá thì giá trị gia tăng sản xuất để hưởng ưu đãi đó rất thấp. Nên chúng ta cố đạt được điểm cân bằng, nghĩa là với quy tắc xuất xứ đó làm sao doanh nghiệp cố gắng có thể đáp ứng được nhưng không quá dễ dãi để lợi ích thu được đi vào các doanh nghiệp, đi vào nền kinh tế của chúng ta.

Trong quá trình chuẩn bị để Hiệp định đi vào thực thi, một trong những điều kiện quan trọng là văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn về quy tắc xuất xứ. Thứ nhất để doanh nghiệp hiểu thế nào là được hưởng, thứ hai được hưởng thì phải làm những thủ tục nào. Ví dụ, mẫu xin phép để có chứng nhận xuất xứ như thế nào, điều này sẽ được thể hiện trong thông tư. Với mỗi hiệp định thương mại tự do, Bộ Công Thương sẽ ban hành một thông tư như vậy.

Hiện nay thông tư đã được dự thảo, lấy ý kiến các đối tượng có liên quan để mọi người được biết sớm quy tắc xuất xứ cụ thể như thế nào mới được đi vào thị trường EU. Điều này rất quan trọng. Tuy nhiên, vẫn còn vướng mắc ở khâu ban hành để có hiệu lực. Theo đúng quy trình bình thường, một thông tư chỉ có hiệu lực 45 ngày sau khi được ký. Với Hiệp định thương mại tự do với EU, về mặt pháp lý phải chờ Quốc hội phê chuẩn, sau đó Bộ Công Thương ban hành thông tư và chờ 45 ngày sau thì thông tư mới có hiệu lực.

Nếu chúng ta đặt mục tiêu 30 ngày sau khi Quốc hội phê chuẩn, sau đó có trao đổi thư, tức là khoảng hơn 1 tháng sau, như vậy thông tư có hiệu lực muộn hơn so với thời gian chúng ta dự tính. Hiện nay, các cơ quan đang bàn về mặt pháp lý để điều chỉnh vấn đề này. Có hai phương án: Một là có thể Bộ Công Thương ban hành thông tư này trước khi Quốc hội phê chuẩn, tuy nhiên điều này rất khó vì chưa có tiền lệ về mặt pháp lý. Cách thứ hai có thể xem xét hiệu lực như thế nào để khi Quốc hội phê chuẩn có thể quy định hiệu lực ngay và có những linh hoạt về thời gian kể từ ngày Hiệp định được ban hành và công bố công khai đến khi thông tư có hiệu lực pháp lý. Điều này cũng hợp lý vì dự thảo thông tư và nội dung Hiệp định hiện nay đã được công bố công khai, doanh nghiệp có thể làm quen trước.

Nếu như có những linh hoạt này thì Hiệp định có thể đưa vào thực thi và doanh nghiệp có thể tận dụng được ngay lợi ích. Vì nếu như thông tư không có hiệu lực thì doanh nghiệp không thể xin được mẫu chứng nhận xuất xứ và như vậy cũng không thể hưởng ưu đãi. Chúng tôi đang bàn với các cơ quan để cố xử lý bất cập này trong hệ thống pháp luật của chúng ta.

Đối với quy định về về xuất xứ hàng hoá liên quan đến cam kết đặc thù của CPTPP trước đây, phía VCCI đã có nhiều ý kiến góp ý về nội dung. Vậy với EVFTA lần này thì sao thưa bà? Cộng đồng doanh nghiệp liệu đã được trang bị đầy đủ thông tin và VCCI có kiến nghị gì không?

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Quy tắc xuất xứ là điều kiện để hưởng ưu đãi thuế quan. Nếu doanh nghiệp muốn hưởng lợi từ ưu đãi thuế quan thì vấn đề quy tắc xuất xứ bao giờ cũng phải đi trước. Quy tắc xuất xứ không phải là quy tắc chung cho tất cả các loại hàng hóa. Mỗi một nhóm hàng hóa lại có quy tắc riêng. Trong các quy tắc đó rất nhiều yếu tố chi tiết cụ thể. Từ phía cộng đồng doanh nghiệp, chúng tôi mong muốn các cơ quan quản lý Nhà nước sẽ hỗ trợ 3 vấn đề.

Thứ nhất, việc ban hành các văn bản quy tắc xuất xứ như anh Thái chia sẻ, chúng tôi rất mừng vì chúng ta đã làm việc này từ rất sớm, các cơ quan Nhà nước đang cố gắng để thông tư có hiệu lực đồng thời với Hiệp định. Hy vọng điều này có thể khác biệt với CPTPP trước đây.

Về việc này, tôi muốn nói thêm rằng Thông tư mà anh Thái chia sẻ là văn bản hướng dẫn để doanh nghiệp có thể xin được chứng nhận xuất xứ hàng hóa của Việt Nam để xuất khẩu đi EU thôi. Bên cạnh đó còn có câu chuyện về văn bản hướng dẫn về xuất xứ để nhập khẩu hàng hóa EU vào Việt Nam. Chúng ta thường ít quan tâm chiều nhập khẩu này nhưng đối với nhiều doanh nghiệp, đây là phần lợi ích rất đáng kể. Đặc biệt đối với những doanh nghiệp nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghệ và hàng hóa khác từ EU để làm đầu vào cho sản xuất ở Việt Nam. Những quy định pháp luật từ phía chúng ta để tiếp nhận và cho hàng hóa có xuất xứ của EU vào Việt Nam được hưởng thuế ưu đãi của Việt Nam vì thế cũng quan trọng.

Thứ hai, làm thế nào để doanh nghiệp có thể hiểu được quy tắc xuất xứ. Như đã nói ở trên, các quy tắc xuất xứ rất khó và nhiều chi tiết. Chúng tôi rất mong các cơ quan đi đàm phán tăng cường hơn nữa hoạt động tuyên truyền, phổ biến cho doanh nghiệp. Với CPTPP, Bộ Công Thương đã tổ chức rất nhiều hội thảo, khóa đào tạo để hướng dẫn về các vấn đề của CPTPP, trong đó có vấn đề về quy tắc xuất xứ. Nhưng nói thật là chưa đủ. Đối với hàng trăm nghìn doanh nghiệp, số lượng mười mấy hội thảo này chưa đủ. Hơn nữa, thời gian của các khóa đào tạo rất ngắn. Chúng tôi mong có những bản hướng dẫn cụ thể bằng văn bản, giống như những quyển sách cẩm nang để các doanh nghiệp có thể tra cứu được. Nếu có vấn đề gì thì hỏi các cơ quan, như vậy sẽ tốt hơn. 

Thứ ba, trong các vấn đề về quy tắc xuất xứ, văn bản bao giờ cũng đi sau thực tế. Thực tế muôn hình vạn trạng, nhiều hàng hóa nhiều cách thức sản xuất khác nhau. Cho nên chắc chắn sẽ xảy ra các vấn đề mà văn bản chưa lường trước được. Chúng tôi mong các cơ quan quản lý có một bộ phận trực phản ứng nhanh, nếu doanh nghiệp có phản ánh gì thì ngay lập tức chúng ta có thể tháo gỡ cho các doanh nghiệp trong từng trường hợp cụ thể.

Nếu làm được những vấn đề này, khắc phục được những kinh nghiệm chúng ta cho rằng chưa được tốt từ CPTPP, chúng tôi rất hy vọng với EVFTA tình hình sẽ lạc quan hơn nhiều.  

Thưa ông Lương Hoàng Thái, ông có những chia sẻ gì về vấn đề này?

Ông Lương Hoàng Thái: Tôi rất nhất trí với chị Trang và xin bổ sung thêm một số nội dung.

Nếu như chúng ta không cho doanh nghiệp EU hưởng ưu đãi trong một giai đoạn thì họ hoàn toàn có quyền dừng hàng của chúng ta, không cho hàng chúng ta xuất khẩu sang EU hưởng ưu đãi. Vì vậy đây là việc rất quan trọng. Tất nhiên một mình Bộ Công Thương không thể xử lý được tất cả văn bản này. Chúng tôi đã có công văn gửi các bộ, ngành, đề nghị các bộ, ngành sớm chủ động, sớm dự thảo những văn bản này. Không chỉ có Bộ Tài chính, Bộ Tài chính hướng dẫn về biểu thuế, ưu đãi áp dụng cho EU như thế nào cũng như quy tắc xuất xứ để áp dụng cho trường hợp hàng EU vào Việt Nam. Ngoài ra còn rất nhiều cam kết khác. Trong quá trình tới, như tôi vừa chia sẻ, chúng tôi đã có công văn, tuy nhiên điều này còn phụ thuộc vào sự chủ động của mỗi bộ, ngành có liên quan.

Hiện nay, Bộ Tư pháp đã rà soát, nói rõ các văn bản nào cần ban hành, cần sửa đổi, bổ sung. Các bộ, ngành cần căn cứ vào đó để chủ động hơn nữa. Nếu như chờ quyết định chính thức, cần có Quốc hội phê chuẩn thì Hiệp định sẽ đi vào thực thi muộn, sẽ khó khăn thêm cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, trong quá trình thực thi ban hành, trong nhiều trường hợp chúng ta chưa lường trước được những thực tế trong hoạt động kinh doanh, vì vậy có những văn bản còn khó cho doanh nghiệp có thể đáp ứng được. Điều này cần các cơ quan linh hoạt. Trong quá trình thực thi, chúng ta có cơ chế kết nối giữa cơ quan đại diện cho tiếng nói của doanh nghiệp hoặc những nơi phản ánh nhanh nhất ý kiến của doanh nghiệp vận hành như thế nào và có cơ chế buộc các cơ quan quản lý Nhà nước phải lắng nghe, tiếp thu, báo cáo giải trình những ý kiến đó. Nếu có những cơ chế như vậy, tôi nghĩ sẽ tăng hiệu quả rất lớn trong quá trình thực thi sau này.

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Tôi muốn nhấn mạnh thêm vấn đề này. Chúng ta đang nói về vấn đề làm thế nào để cho các doanh nghiệp, nền kinh tế của chúng ta có thể tận dụng được một cách nhanh nhất các lợi ích từ phía Hiệp định thương mại tự do lớn và nhiều kỳ vọng như EVFTA.

Nếu theo quy trình thông thường, việc ban hành, soạn thảo một nghị định, thông tư trong vòng mấy tháng là một kỷ lục rất ấn tượng. Nhưng nói về tận dụng, tính từ thời điểm Hiệp định có hiệu lực thì như vậy là chưa đủ. Từ góc độ cộng đồng doanh nghiệp, rất mong các cơ quan quản lý Nhà nước vận hành theo cách linh hoạt hơn yêu cầu để tận dụng nhanh nhất các lợi ích.

Trước EVFTA, CPTPP cũng được kỳ vọng nhiều nhưng sau 1 năm chính thức có hiệu lực, cơ hội to lớn từ Hiệp định CPTPP vẫn chưa trở thành hiện thực đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Thậm chí có ý kiến cho rằng lợi ích từ CPTPP vẫn chỉ “nằm trên giấy”. Chúng ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm gì để tới đây, việc thực thi EVFTA thực sự mang lại lợi ích cho doanh nghiệp?

Ông Lương Hoàng Thái: Vừa qua, chúng tôi thấy có một số thông tin cho rằng chúng ta không tận dụng tốt Hiệp định CPTPP. Vấn đề này có hai mặt: Một mặt, chúng ta có thể tận dụng tốt hơn nữa một số khía cạnh. Tôi nghĩ có một khía cạnh rất quan trọng đó là nhiều người vẫn trông đợi Hiệp định CPTPP như Hiệp định TPP trước đây trong đó có Hoa Kỳ.

Trong quá trình chúng tôi báo cáo Quốc hội để phê chuẩn Hiệp định CPTPP, sau khi Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định, cơ hội không lớn như trước nữa. Nhưng chúng ta với chủ trương thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt chuẩn bị cho những bước cao hơn, cho nên Quốc hội chúng ta quyết định phê chuẩn. Trong báo cáo chính thức của Chính phủ trình Quốc hội đánh giá tác động của Hiệp định CPTPP ở mức vừa phải. Đơn cử như xuất nhập khẩu, trong báo cáo, theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự kiến xuất khẩu của chúng ta sang thị trường CPTPP dự kiến tăng 4,04% đến năm 2035 nếu như Hiệp định được đưa vào thực thi. Nghĩa là một năm tăng khoảng 700 triệu USD. Đây là mức dự kiến khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu mô hình kinh tế.

Thực tế trong quá trình thực thi, chúng ta đã tận dụng tốt hơn dự báo. Trong năm 2019, mặc dù Hiệp định đưa vào thực thi chưa đủ 1 năm, kim ngạch của chúng ta với các nước trong thị trường CPTPP có mức tăng trưởng khá, đặc biệt với 2 thị trường trước đây chúng ta chưa có Hiệp định thương mại tự do là Canada và Mexico đều tăng ở mức từ 26-29%. Trước đây với tổng thể thị trường CPTPP, chúng ta nhập siêu ở mức 0,9 tỷ USD, năm 2019 xuất siêu 1,6 tỷ USD. Tất nhiên không thể nói tất cả các con số này đều nhờ CPTPP, nhưng tôi nghĩ CPTPP có đóng góp phần nào. Có thể thấy tăng trưởng xuất khẩu năm 2019 của chúng ta có sự đóng góp của thực thi CPTPP.

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đây là tác động của việc cải cách tổng thể. Trong Hiệp định CPTPP có rất nhiều nội dung yêu cầu chúng ta cải cách, chính nhờ cải cách mới có được những ghi nhận tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sang một số thị trường CPTPP lớn như vậy. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu năm 2019, các nước láng giềng của chúng ta gặp khó khăn rất lớn, trong khi đó chúng ta ghi nhận tăng trưởng khá xuất khẩu nói chung, đặc biệt với 2 thị trường mới nhờ Hiệp định CPTPP chúng ta có được với mức tăng trưởng rất ấn tượng.

Về tổng thể, chúng tôi nghĩ việc thực thi tương đối đáp ứng được kỳ vọng ban đầu, tất nhiên có nhiều điểm chúng ta có thể thực hiện tốt hơn như việc chậm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Về vấn đề này, đối với Hiệp định EVFTA, chúng tôi đã tổng hợp, báo cáo Thủ tướng để có những chỉ đạo, trong thời gian tới chúng ta cố gắng thúc đẩy để hoàn thiện, điều chỉnh tốt hơn. Đặc biệt các bộ, ngành, địa phương cần quan tâm hơn việc thực thi Hiệp định, trong đó có những chương trình hành động tương đối cụ thể để không những đáp ứng được về mặt văn bản pháp luật, mà thông qua Hiệp định có thể cải cách nền kinh tế theo hướng hội nhập tốt hơn với nền kinh tế toàn cầu.

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Một năm có lẽ là thời gian chưa đủ dài để chúng ta có thể đánh giá được tác động của một Hiệp định thế hệ mới như CPTPP. 2019 lại là năm rất đặc biệt đối với thương mại không chỉ của Việt Nam mà của cả toàn cầu khi mà căng thẳng thương mại xuất hiện ở nhiều điểm trên thế giới làm cho dòng chảy thương mại và đầu tư bị biến đổi rất mạnh. Vì vậy, những kết quả đã đạt được trong năm 2019, nếu chúng ta không có các hiệp định thì có lẽ cũng không được như vậy. Tuy nhiên, kết quả này cũng không phải không cho thấy nhiều vấn đề.

Ví dụ về xuất khẩu, như anh Lương Hoàng Thái vừa nói, trong khi có rất nhiều nước xuất khẩu bị chậm lại thì chúng ta vẫn tăng 8,1% trong năm 2019. Điều này cho thấy nỗ lực của Chính phủ trong việc cải thiện môi trường kinh doanh cũng như các hoạt động xúc tiến xuất khẩu để chúng ta có thể giữ được mức tăng này trong bối cảnh khó khăn chung. Tuy nhiên mức tăng 8.3% của kim ngạch xuất khẩu vào các nước CPTPP, tức là chỉ nhỉnh hơn mức tăng bình quân của xuất khẩu đi toàn thế giới, lại cho thấy chúng ta chưa thật tận dụng được cơ hội thuế quan từ CPTPP. 

Còn nói về thực thi các cam kết về thể chế thì sao. Đúng là đa số các cam kết quy tắc của chúng ta trong CPTPP đã được đưa vào các văn bản pháp luật nội địa, tức là đã hoàn thành cơ bản các nghĩa vụ đến hạn. Mặc dù vậy đa phần các văn bản này bị ban hành chậm so với yêu cầu lẽ ra phải có hiệu lực ngay từ ngày 14/1/2019. Lại nói đến EVFTA, thực thi các cam kết thể chế trong EVFTA có thể có thuận lợi do nhiều cam kết của EVFTA giống với CPTPP nên EVFTA dù chưa có hiệu lực nhưng trên thực tế chúng ta đã thực hiện. Tuy nhiên, nếu vượt ra ngoài các cải cách bắt buộc từ cam kết, nếu chúng ta nhìn CPTPP hay EVFTA như một động lực để thay đổi thể chế vì chính chúng ta, để chúng ta tận dụng được những lợi ích hoặc đối mặt với những thử thách nhất định thì đấy lại là câu chuyện khác, là chuyện chúng ta dường như chưa làm được bao nhiêu.

Từ những dự báo về tác động của EVFTA đối với quan hệ thương mại Việt Nam- EU và nền kinh tế Việt Nam, ông/bà nhìn nhận thế nào về lợi thế so sánh của hàng hóa cũng như năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong mối tương quan này?

Ông Lương Hoàng Thái: Thị trường EU là một trong những thị trường quan trọng của Việt Nam, những năm trước đây, xuất khẩu của Việt Nam sang EU chiếm khoảng 18-19%. Với góc độ nhìn nhận của cơ quan quản lý Nhà nước, việc tăng năng lực cạnh tranh doanh nghiệp sang thị trường này thì một trong những ưu đãi để chúng ta tận dụng đưa hàng hóa vào EU chính là ưu đãi thuế quan GSP. Việc thực thi hiệp định này sẽ giúp cho doanh nghiệp chuyển đổi từ ưu đãi ngắn hạn sang ưu đãi dài hạn hơn. Chúng ta hy vọng với thị trường lớn như EU thì doanh nghiệp có điều kiện để khai thác. Nhưng không phải cứ có đường cao tốc là tất cả cùng phát triển, cần phải có sự chuẩn bị, vào cuộc của từng ngành, từng doanh nghiệp cụ thể. Hiệp định mới là đường cao tốc mới, chúng ta cần điều chỉnh cách làm để phù hợp với hạ tầng thì chúng ta mới tận dụng được tốt hơn những cơ hội và nền kinh tế của chúng ta phát triển dài hạn.

Bà Nguyễn Thu Trang: Nhìn trong tổng thể chung, rõ ràng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam thấp hơn các doanh nghiệp EU. Tuy nhiên, trong một số ngành nhất định chúng ta vẫn có lợi thế vượt trội. Nền kinh tế Việt Nam với EU về cơ bản không cạnh tranh trực tiếp mà là cạnh tranh bổ sung. Trong điều kiện như vậy, về năng lực cạnh tranh chúng ta có thể tận dụng được cơ hội từ EVFTA trong một số lĩnh vực nhất định. Nhưng ngay cả trong những lĩnh vực đó cũng không có nghĩa là chúng ta không cần làm gì thêm để được hưởng lợi từ EVFTA. Ví dụ để hưởng ưu đãi thuế quan cho các sản phẩm thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam, thực tế các doanh nghiệp Việt Nam vẫn cần điều chỉnh nhất định trong sản xuất. Để đáp ứng các quy tắc xuất xứ, doanh nghiệp có thể sẽ phải mua nguồn cung nội địa hoặc từ EU, có thể đắt hơn mua của một số nước xung quanh, nhưng nó lại mang cho chúng ta lợi thế khi sản xuất hàng cho thị trường EU. Hoặc doanh nghiệp có thể phải điều chỉnh các quy trình sản xuất để đáp ứng các quy tắc xuất xứ… Những điều này có thể sẽ khiến doanh nghiệp mất thêm nhiều chi phí. Như vậy, để tận dụng lợi ích từ EVFTA, doanh nghiệp cần có sự đầu tư, thay đổi để phát triển.

Bà đã từng nói rằng doanh nghiệp Việt Nam phải chấp nhận đánh đổi những năm đầu tiên khi tham gia EVFTA. Bà hãy phân tích rõ hơn về nhận định này của mình?

Bà Nguyễn Thu Trang: Chúng ta phải mất chi phí ban đầu, hiện nay có những doanh nghiệp đang làm được rồi và họ tiếp tục được hưởng lợi mà không mất thêm chi phí đầu tư, nhưng đấy là họ đã đầu tư trước đây để họ thay đổi. Các doanh nghiệp phải đầu tư, phải thay đổi để đáp ứng các điều kiện của EVFTA để được hưởng lợi. Có những cam kết về mặt quy tắc làm thay đổi thể chế, thay đổi tiêu chuẩn, quy định pháp luật như liên quan đến lao động hay sở hữu trí tuệ. Tất cả những cái đó sẽ làm cho chi phí của doanh nghiệp tăng lên. Cơ bản ban đầu doanh nghiệp sẽ mất những chi phí như vậy, để đổi lại, doanh nghiệp có thể tận dụng được cơ hội.

Để tận dụng tốt các cơ hội của thị trường EU, ông/bà có thể tư vấn một số giải pháp gì cho các doanh nghiệp xem xét, chuẩn bị?

Ông Lương Hoàng Thái: Một số nơi vẫn dựa vào các cơ quan Nhà nước để hướng dẫn đi vào thị trường đó. Tất nhiên, cơ quan quản lý Nhà nước cần tăng cường công tác phổ biến thông tin, xúc tiến thương mại. nhưng sự chủ động của các doanh nghiệp là rất quan trọng. Có nhiều doanh nghiệp rất chuyên nghiệp, họ nghiên cứu thị trường rất bài bản, tôi cho rằng quan trọng nhất là cách tiếp cận mang tính nghiêm túc và chủ động đối với thị trường mới. Những ai xác định đây là thị trường mục tiêu thì cần có cách tiếp cận bài bản. Thứ hai, trong xây dựng quan hệ với EU thì phải xây dựng chuỗi cung ứng kết nối hai nền kinh tế với nhau. Có thể chúng ta không trực tiếp xuất khẩu nhưng tham gia vào chuỗi cung ứng thì cũng được hưởng lợi. Mỗi doanh nghiệp có cách tính toán riêng. Chúng tôi chỉ có thông điệp lớn đó, mong các doanh nghiệp có sự chủ động và làm bài bản với thị trường này.

Được biết Bộ trưởng Bộ Công Thương, ông Trần Tuấn Anh đã yêu cầu đơn vị trực thuộc Bộ lên phương án kỹ càng về kịch bản để khai thác các từng thị trường trong EU trong trường hợp EVFTA được Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực. Xin ông thông tin rõ hơn về sự chuẩn bị này của Bộ?

Ông Lương Hoàng Thái: Bộ trưởng chỉ đạo các đơn vị liên quan xây dựng chương trình hành động chia làm 2 giai đoạn: Một là từ nay đến khi hiệp định được Quốc hội phê chuẩn và có hiệu lực, hai là giai đoạn sau khi có hiệu lực thì phải làm những gì. Trong đó có các biện pháp lớn về tăng cường xúc tiến thương mại, năng lượng tái tạo, hay lĩnh vực về phát triển công nghiệp ô tô. Mô hình của EU có những cái khác với chúng ta và được nhiều nơi áp dụng. Chương trình hành động của Bộ rất chi tiết, trước mắt chúng tôi đang tập trung hỗ trợ doanh nghiệp như cung cấp thông tin, chuẩn bị các văn bản quy phạm pháp luật... để hiệp định có thể thực thi ngay sau khi Quốc hội phê chuẩn.

Phòng vệ thương mại (PVTM) có ý nghĩa quan trọng với nền kinh tế cũng như doanh nghiệp khi Việt Nam đang mở cửa và phải cạnh tranh với rất nhiều sản phẩm đến từ các nước, đặc biệt là EVFTA dự kiến sẽ sớm có hiệu lực. Xin ông cho biết EVFTA đề cập đến những khía cạnh nào của PVTM và cơ chế tự vệ song phương trong EVFTA được quy định như thế nào?

Ông Lương Hoàng Thái: Thứ nhất, về cơ bản trong những biện pháp PVTM, EU là một trong những đối tác quan trọng áp dụng tương đối ít với Việt Nam. Trong hiệp định thương mại tự do này có 2 nhóm quy định: Thứ nhất, làm sao để hai bên hạn chế việc áp dụng PVTM với nhau, trong trường hợp nếu phải áp dụng thì phải minh bạch và biện pháp có thể nhẹ tay hơn so với thông thường. Ví dụ theo WTO, biên độ chống bán phá giá thì áp dụng thuế chống bán phá giá đúng bằng biên độ đó, nhưng trong hiệp định của chúng ta với EU thì hai bên có thể cân nhắc mức thấp hơn dù biên độ bán phá giá có thể cao hơn. Thứ hai, trong hiệp định này cũng như nhiều hiệp định khác có biện pháp tự vệ mang tính chuyển đổi trong giai đoạn thực thi hiệp định. Có nghĩa hai bên cắt giảm thuế quan mà kết quả có thể làm xáo trộn thị trường ở mức đủ lớn thì bên bị ảnh hưởng có thể áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời trong giai đoạn ngắn, có thể gia hạn 2 năm tiếp theo. Tổng thời gian được áp dụng cơ chế tự vệ tạm thời này là 10 năm sau khi hiệp định có hiệu lực và sau 10 năm, cơ chế đó sẽ mất đi.

Tôi cũng hy vọng trong quá trình thực thi không bên nào phải sử dụng cơ chế này, quan hệ phát triển thương mại hai bên mang tính bền vững không phải mang tính xáo trộn, bất lợi.

Bà đánh giá như thế nào về khả năng phòng vệ thương mại của nước ta hiện nay và theo bà, cần nâng cao, cải thiện và bổ sung những gì để có thể ứng phó với các vụ kiện liên quan đến PVTM, để bảo đảm mức an toàn cần thiết khi doanh nghiệp Việt nam “tham giao giao thông” trên “đường cao tốc Việt Nam-EU”?

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Về vấn đề này, tôi muốn nhấn mạnh ý của anh Lương Hoàng Thái là có các cơ chế ở trong EVFTA, có các cơ chế thông thường hiện nay chúng ta đang áp dụng để cho phép các doanh nghiệp tự bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước các hàng hóa nhập khẩu nói chung và hàng hóa nhập khẩu từ EU nói riêng nếu xảy ra các nguy cơ được quy định trong Hiệp định. Điều này chúng ta không mong muốn và khả năng xảy ra rất thấp. Nhưng nếu điều này xảy ra thì sao?

Trên thực tế, từ khi gia nhập WTO, chúng ta đã ghi nhận quyền sử dụng các công cụ PVTM như chống bán phá giá. Chúng ta có pháp lệnh về các công cụ này từ năm 2003, 2004 nhưng phải 6 năm sau chúng ta mới có vụ kiện tự vệ đầu tiên. Đến 10 năm sau, chúng ta mới có vụ kiện chống bán phá giá đầu tiên. Tuy nhiên, trong khoảng một thời gian sau đó, trong chưa đầy 10 năm tính đến thời điểm này, chúng ta có 9 vụ kiện chống bán phá giá, 6 vụ kiện PVTM. Điều này cho thấy, các doanh nghiệp mặc dù còn rất nhiều vấn đề nhưng đã bắt đầu làm quen với việc sử dụng công cụ này. Tôi nghĩ về mặt năng lực sử dụng, không có vấn đề gì lớn. Thậm chí, tôi còn đang e ngại vấn đề lại nằm ở các ngành nội địa bị ảnh hưởng bất lợi từ công cụ này khi họ sử dụng hàng hóa nhập khẩu bị kiện làm nguồn đầu vào, họ mới là nhóm cần được chú ý để bảo vệ lợi ích trước các biện pháp phòng vệ thương mại.

Như vậy, về phòng vệ thương mại, chúng ta đã có công cụ, trên thực tế đã có những thực tiễn có thể sử dụng được. Nếu có xảy ra, không có vấn đề gì quá lớn.

Tôi muốn quay lại câu chuyện các cơ quan Nhà nước có thể làm gì để hỗ trợ doanh nghiệp trong tận dụng EVFTA. Tôi hoàn toàn đồng ý với anh Lương Hoàng Thái là doanh nghiệp phải chủ động. Nếu doanh nghiệp muốn tận dụng cơ hội, trước hết phải chủ động để tìm hiểu các cam kết để xem cơ hội nằm ở đâu. Có thể có rất nhiều giới thiệu về cam kết nhưng doanh nghiệp không chủ động tìm hiểu thì cũng không tận dụng được. Tuy vậy, trên một bình diện chung, doanh nghiệp rất cần các cơ quan Nhà nước hỗ trợ. Những hỗ trợ thường doanh nghiệp một mình không làm được. Hoặc một mình làm được nhưng không hiệu quả. Ít nhất là có 3 vấn đề mà cơ quan Nhà nước cần và có thể hỗ trợ doanh nghiệp.

Thứ nhất là câu chuyện hiểu về các cam kết. Tôi nói thật các cam kết rất khó để hiểu, nhất là đối với các hiệp định phạm vi rộng, phức tạp như EVFTA hay CPTPP. Điều này phải là những người đi đàm phán mới hiểu được, cho nên chúng tôi rất mong các cơ quan Nhà nước đi đàm phán có hướng dẫn cụ thể cho doanh nghiệp để doanh nghiệp có thể hiểu được. Những hướng dẫn này công khai ở những nơi doanh nghiệp có thể tiếp cận được dễ dàng.

Thứ hai là những việc doanh nghiệp có thể làm nhưng không hiệu quả. Nếu các cơ quan có thể làm thay thế cho doanh nghiệp, ví dụ những thông tin cơ bản về nhu cầu, xu hướng, sự thay đổi cơ bản của thị trường thì Bộ Công Thương, các bộ, ngành liên quan có thể hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực có liên quan về các thông tin chung như vậy.

Thứ ba, chúng tôi mong rằng các cơ quan có hành động không chỉ để thực thi yêu cầu của Hiệp định mà phải vượt lên trên Hiệp định để cải cách thể chế, những hoạt động cải thiện môi trường kinh doanh để cho doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh tốt hơn, không phải lo lắng về những vấn đề xung quanh, những rào cản không đáng có. Câu chuyện cải cách thể chế, sửa đổi pháp luật không chỉ dừng lại ở việc đến thời điểm nào Hiệp định yêu cầu phải thay đổi cái gì mà chúng ta phải chuẩn bị nhiều hơn. Đối với việc này, hành động từ phía các cơ quan Nhà nước rất quan trọng.

Thông qua các nghị quyết về cải thiện môi trường kinh doanh đã có rất nhiều nỗ lực, trên thực tế những nỗ lực đó đã cải thiện môi trường kinh doanh của chúng ta và giúp chúng ta giữ ở mức tương đối thành tích xuất khẩu, thu hút đầu tư trong bối cảnh thế giới biến động, bất lợi như hiện tại. Có thể lấy EVFTA như là một động lực, không chỉ các doanh nghiệp đầu tư để cải thiện chính mình mà các cơ quan Nhà nước đầu tư nỗ lực để cải thiện môi trường kinh doanh./.

Nguồn: Cổng TTĐT Chính phủ

Quảng cáo sản phẩm