Vụ việc tư vấn số 15 - Mắc áo thép VN bị điều tra CBPG và chống trợ cấp tại Hoa Kỳ - Phương án hành động cho các DN Việt Nam

Ngày 18/01/2012, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã ra quyết định khởi xướng điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với sản phẩm mắc áo bằng thép (steel wire garment hangers) nhập khẩu từ Việt Nam và điều tra chống bán phá giá đối với mặt hàng này nhập khẩu từ Đài Loan. Quyết định khởi xướng này được đưa ra trên cơ sở đơn kiện ngày 29/12/2011 của 3 công ty Hoa Kỳ là Công ty M&B Metal Products (Leeds, AL), Công ty Innovative Fabrication/Indy Hanger (Indianapolis, IN) và Công ty Mắc áo Hoa Kỳ (Gardena, CA). Mắc áo thép chưa phải là sản phẩm xuất khẩu mạnh của Việt Nam. Mặc dù vậy, điểm đặc biệt là vụ việc này là ở chỗ: đây không phải lần đầu tiên mắc áo thép Việt Nam bị Hoa Kỳ kiện phòng vệ thương mại. Năm 2010, sản phẩm này đã từng bị kiện chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá.

Bài viết dưới đây sẽ cung cấp một số nội dung chính của cuộc điều tra và khuyến nghị phương án hành động cho Hiệp hội và các doanh nghiệp xuất khẩu mắc áo thép Việt Nam.

I. Thông tin chính của vụ kiện

Bên đệ đơn:

Ngày 29/12/2011, Công ty M&B Metal Products (Leeds, AL), Công ty Innovative Fabrication/Indy Hanger (Indianapolis, IN) và Công ty Mắc áo Hoa Kỳ (Gardena, CA) đã đệ đơn tới DOC yêu cầu cơ quan này khởi xướng điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với các sản phẩm mắc áo bằng thép nhập khẩu từ Việt Nam và điều tra chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu này từ Đài Loan.

Giai đoạn điều tra: DOC sẽ điều tra căn cứ vào các dữ liệu trong giai đoạn:

Đối với điều tra chống bán phá giá: từ ngày 01/01/2011 đến ngày 31/12/2011

Đối với điều tra chống trợ cấp: từ ngày 01/04/2011 đến ngày 30/09/2011

Sản phẩm bị điều tra:

Sản phẩm mắc áo bằng thép được sử dụng trong các ngành may mặc, giặt là. Sản phẩm mắc áo thép được làm từ dây thép cacbon, không tính tới việc có được sơn hay mạ, có được bọc nhựa hay các chất liệu tương tự.

Sản phẩm thuộc phạm vi điều tra không bao gồm (a) các mắc áo được làm từ gỗ, nhựa hoặc các chất liệu khác mà không phải là dây thép; (b) mắc áo bằng thép gắn móc xoay; (c) các mắc áo bằng thép có kẹp cố định; và (d) các mắc áo bằng thép mạ chrome với đường kính lớn hơn 3.4mm.

Sản phẩm mắc áo bằng thép có mã HS: 7323.99.9060; 7326.20.0020 và 7323.99.9080.

Biên độ phá giá bị cáo buộc:

• 117.48% - 220.60% đối với hàng nhập khẩu từ Việt Nam

• 18.90% - 125.43% đối với hàng nhập khẩu từ Đài Loan

Các thời hạn dự kiến:

Trong thông báo khởi xướng của DOC, các thời hạn dự kiến sẽ như sau (chưa tính đến các thay đổi/gia hạn của cơ quan có thẩm quyền):

 

Điều tra Chống bán phá giá

Điều tra Chống trợ cấp
 Ngày đệ đơn kiện  29/12/2011  29/12/2011
 Ngày đưa ra quyết định khởi xướng  18/01/2012  18/01/2012
 Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC) ra kết luận sơ bộ  13/02/2012  13/02/2012
 DOC ra kết luận sơ bộ  06/06/2012  23/03/2012
 DOC ra quyết định cuối cùng  20/08/2012  06/06/2012
 ITC ra quyết định cuối cùng  04/10/2012  23/07/2012
 Ngày áp thuế  11/10/2012  30/07/2012

II. Phân tích những yếu tố bất lợi và thuận lợi đối với Việt Nam trong vụ kiện

1. Những yếu tố bất lợi
- Đây là vụ kiện kép cả chống bán phá giá và chống trợ cấp: Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ phải bỏ gần như gấp đôi thời gian, công sức và tiền bạc để thuê luật sư tư vấn, chuẩn bị tài liệu, trả lời bảng câu hỏi, gửi bảng câu hỏi....Và nếu kết luận cuối cùng dẫn đến việc áp cả hai loại thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp thì doanh nghiệp sẽ rơi vào tình cảnh "một cổ hai tròng", cùng lúc phải chịu hai thứ thuế, việc cạnh tranh tại thị trường Hoa Kỳ vì vậy có thể sẽ khó khăn hơn nhiều.
Chỉ sau vài tháng, kể từ tháng 11/2011 vừa qua, ngành thép đã và đang phải chống chọi với 2 vụ kiện phòng vệ thương mại (1 vụ kiện chống bán phá giá và 1 vụ kiện chống trợ cấp) đối với sản phẩm ống thép cac-bon tiêu chuẩn. Đặc biệt đối với một ngành chưa từng có kinh nghiệm kháng kiện chống bán phá giá, chống trợ chấp như ngành thép thì việc trong một khoảng thời gian ngắn (3 tháng) phải đối phó liên tiếp với bốn vụ kiện đối với hai nhóm sản phẩm cùng ngành là điều khó khăn. Trong khi đó, các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu mặt hàng mắc áo thép ở Việt Nam đều là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên hệ thống kế toán chứng từ thường không đạt tiêu chuẩn và nguồn lực dành cho những vụ kiện như thế này cũng không có nhiều để theo kiện đầy đủ và hiệu quả.
- Ngành thép Hoa Kỳ có "truyền thống" bảo hộ rất mạnh thông qua các biện pháp phòng vệ thương mại: Trong số 365 vụ điều tra phòng vệ thương mại của Hoa kỳ tính đến tháng 6/2011 thì có tới 136 vụ điều tra - tức là hơn 1/3 số vụ liên quan đến thép và các sản phẩm từ thép. Trong đó, sản phẩm mắc áo thép đã từng bị năm 2007: Hoa Kỳ điều tra chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, cũng bắt nguồn từ đơn kiện do Công ty M&B Metal Product đệ trình; kết quả là sản phẩm mắc áo thép của Trung Quốc bị áp thuế chống bán phá giá 15.44% - 186.98%.
- Mắc áo thép Việt Nam đã từng bị kiện phòng vệ thương mại tại Hoa Kỳ. Năm 2010, sản phẩm mắc áo thép Việt Nam đã từng bị Bộ Thương mại Hoa Kỳ tiến hành điều tra chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá, xuất phát từ nghi ngờ hàng mắc áo thép từ Trung Quốc được chuyển qua Việt Nam và lấy xuất xứ sản phẩm của Việt Nam để lẩn tránh thuế chống bán phá giá hiện đang áp dụng đối với Trung Quốc. Kết quả của vụ điều tra này không áp dụng cho toàn bộ các sản phẩm mắc áo thép của Việt Nam nói chung, mà chỉ áp dụng kết quả đối với các bị đơn bắt buộc của vụ kiện, cụ thể trong vụ kiện này là hai doanh nghiệp Angang Clothes Rack Manufacture Co., Ltd và Quyky Yanglei International Co., Ltd. Mặc dù vậy, vụ điều tra này cũng đã tạo ra một tiền lệ không tốt cho sản phẩm mắc áo thép Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ (sẽ bị chú ý nhiều hơn và rủi ro bị kiện phòng vệ cao hơn). Theo một số chuyên gia, việc mắc áo thép Việt Nam bị kiện đúp lần này đã chứng minh lo sợ đó là hoàn toàn có cơ sở. Và mặc dù việc điều tra sẽ căn cứ vào số liệu cụ thể của các doanh nghiệp được lựa chọn làm bị đơn bắt buộc, việc bị điều tra chống bán phá giá sau khi đã từng điều tra chống lẩn tránh thuế cũng sẽ không phải là một thử thách nhỏ đối với các doanh nghiệp liên quan.

- Riêng đối với vụ kiện chống trợ cấp, rủi ro và phạm vi tác động có thể vượt ra ngoài phạm vi của sản xuất mắc áo thép. Cụ thể, thường thì một chương trình bị cáo buộc là trợ cấp gây thiệt hại có thể không chỉ áp dụng với một sản phẩm cụ thể là đối tượng điều tra mà có thể áp dụng cùng lúc (hoặc có những điểm tương đồng với các chương trình khác) cho nhiều sản phẩm khác trong ngành hoặc thậm chí với nhiều ngành. Do đó kết quả kháng kiện chống trợ cấp ở vụ thép có thể sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả các vụ kiện chống trợ cấp trong tương lai ở Hoa Kỳ đối với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam. Vì vậy dù ống mắc áo thép không phải là mũi nhọn xuất khẩu của Việt Nam, việc kháng kiện chống trợ cấp trong vụ việc này vẫn cần phải được thực hiện cẩn trọng, tránh tạo ra những "án lệ" bất lợi cho Việt Nam trong tương lai.

2. Những yếu tố thuận lợi:

- Kinh nghiệm và bài học rút ra từ vụ kiện túi nhựa: Vì đây là lần thứ hai Việt Nam bị kiện chống trợ cấp và cũng là lần thứ hai bị kiện kép chống trợ cấp và chống bán phá giá (nếu không kể đến vụ ống thép vừa mới khởi xướng điều tra và chưa có nhiều hoạt động kháng kiện liên quan) nên ít nhiều chúng ta cũng đã rút ra được bài học kinh nghiệm từ vụ kiện trước, đặc biệt là bài học về sự cách thức phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, về các phương án đối phó đối với từng loại cáo buộc trợ cấp và phá giá....

- Những lập luận thành công của Việt Nam trong vụ kiện chống trợ cấp đối với túi nhựa PE trước DOC tạo tiền lệ tốt cho Việt Nam trong các vụ điều tra chống trợ cấp sau tại Hoa Kỳ, trong đó có vụ ống thép này: Trong các vụ điều tra chống trợ cấp đối với các sản phẩm đến từ cùng một nước xuất khẩu, sẽ có những vấn đề có tính chất giống nhau và một khi DOC đã có kết luận rõ ràng về một vấn đề nào đó thì khả năng lớn là cơ quan này sẽ ra kết luận tương tự cho những vấn đề này ở các vụ tiếp theo. Ở vụ túi nhựa, có hai nội dung được xem là "thắng lợi" của Việt Nam và có tác động tốt đến vụ ống thép này. Thứ nhất, ở vụ túi nhựa PE, Việt Nam đã đấu tranh thành công để DOC chấp nhận coi ngày 11/01/2007, ngày Việt Nam chính thức gia nhập WTO, là mốc để chỉ các trợ cấp sau ngày này mới bị xem là có thể bị khiếu kiện. Đây được xem là một điểm thuận lợi cho Việt Nam bởi sau thời điểm 11/1/2007, Việt Nam đã bắt đầu thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong khuôn khổ WTO, trong đó có việc loại bỏ các trợ cấp không hợp pháp theo WTO. Và vì vậy nguy cơ Việt Nam bị cáo buộc trợ cấp trái WTO sẽ được giảm bớt nhiều. Thứ hai, kết thúc điều tra vụ túi nhựa DOC đã bác bỏ cáo buộc về nhiều chương trình trợ cấp mà nguyên đơn nêu và bỏ lửng kết luận với một số chương trình trợ cấp khác. Trong vụ kiện chống trợ cấp thép lần này, có khoảng 2/3 trong số các chương trình trợ cấp bị nguyên đơn cáo buộc có tính chất tương tự với các chương trình đã bị kiện trong vụ Túi nhựa, vì vậy Việt Nam hoàn toàn có thể sử dụng các lập luận tương tự vụ túi nhựa để áp dụng trong trường hợp đã "thắng" trong vụ túi nhựa (tất nhiên với các dẫn chứng cụ thể của ngành thép) và có điều kiện để tập trung nguồn lực nhiều hơn nhằm đối phó với các chương trình trợ cấp bị cáo buộc mới xuất hiện trong vụ việc này hoặc đã xuất hiện trong vụ túi nhựa nhưng DOC chưa có kết luận cuối cùng.

- Cuối tháng 12/2011 vừa rồi, Tòa Phúc thẩm Hoa Kỳ ra phán quyết trong một vụ kiện khác (GPX) nhưng có ảnh hưởng đến tương lai việc điều tra và áp thuế chống trợ cấp đối với Việt Nam nói chung và vụ việc này nói riêng: Với kết luận khẳng định việc điều tra và áp dụng thuế chống trợ cấp đối với các sản phẩm đến từ một nền kinh tế phi thị trường (NME) là không hợp pháp, Tòa Phúc thẩm đã tạo ra một án lệ có ý nghĩa. Về nguyên tắc, bản án của Tòa chỉ có giá trị ràng buộc đối với DOC trong vụ GPX và DOC vẫn có toàn quyền hành động trong các vụ việc chống trợ cấp khác đối với hàng hóa từ NME. Tuy nhiên, rõ ràng án lệ này sẽ khiến DOC hành động dè chừng hơn, và trong một chừng mực nào đó, nó cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu bị đơn từ NME như Việt Nam có thêm công cụ để phản đối các quyết định cuối cùng của DOC trong vụ điều tra chống trợ cấp. Điều này cũng đúng với vụ kiện chống trợ cấp đối với mắc áo thép này. Với quyết định khởi xướng điều tra đưa ra hồi tháng 1/2012 vừa rồi, có vẻ như DOC đã quyết định "bỏ qua" án lệ nói trên của Tòa Phúc thẩm, tiếp tục điều tra và có thể sẽ áp dụng thuế chống trợ cấp đối với sản phẩm nhập khẩu từ NME. Mặc dù vậy, công cụ kháng kiện các quyết định của DOC ra Tòa án Hoa Kỳ vẫn nằm trong tay các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp có thể dùng đến khi cần thiết (ví dụ nếu DOC sau khi điều tra quyết định áp thuế chống trợ cấp ở mức cao gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu mắc áo Việt Nam)./

Doanh nghiệp cần tư vấn và hỗ trợ có thể liên hệ với Hội đồng Tư vấn về Chống bán phá giá, Chống trợ cấp và Tự vệ (Hội đồng TRC) thuộc Trung tâm WTO - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam qua http://www.chongbanphagia.vn

Các tin khác

Quảng cáo sản phẩm