“Cởi trói” mã số vùng trồng: Rộng cửa cho xuất khẩu nông sản Việt

05/08/2026 10:43 - 40 lượt xem

Việc cắt giảm thành phần hồ sơ, chuyển toàn bộ quy trình lên môi trường số và trao quyền tự kê khai cho tổ chức, cá nhân đang mở ra một cách tiếp cận mới trong quản lý mã số vùng trồng. Theo ông Nguyễn Ngọc Linh, Giám đốc Thương hiệu Easy Export, Chuyên gia Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số, đây không đơn thuần là cải cách thủ tục hành chính mà là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng tính minh bạch và củng cố vị thế của nông sản Việt trên thị trường xuất khẩu.

 

Phóng viên: Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP vừa có hiệu lực đã thay đổi khá mạnh cách thức cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Theo ông, đâu là điểm đáng chú ý của chính sách này?

 

Ông Nguyễn Ngọc Linh: Tôi cho rằng, điểm đột phá không nằm ở việc cắt giảm giấy tờ, mà ở sự thay đổi tư duy quản lý.

 

Trước đây, khi xin cấp mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói, người dân và doanh nghiệp thường phải chuẩn bị nhiều loại tài liệu, trong đó có bản thuyết minh kỹ thuật khá mất thời gian. Nay, hồ sơ được rút gọn chỉ còn đơn đề nghị theo mẫu, nộp trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia đến UBND cấp xã nơi có vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói.

 

Điều này đồng nghĩa với việc chi phí tuân thủ được giảm đáng kể. Người sản xuất không còn phải mất nhiều ngày để hoàn thiện hồ sơ giấy trước khi được xem xét.

 

Quan trọng hơn, Nghị quyết chuyển từ cơ chế “tiền kiểm là chính” sang “hậu kiểm là chính”.

 

Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân tự kê khai và tự chịu trách nhiệm về thông tin đã khai báo; cơ quan quản lý tập trung kiểm tra sau khi cấp mã, chỉ tiền kiểm khi nước nhập khẩu có yêu cầu.

 

Theo tôi, đây là cách tiếp cận phù hợp với xu hướng cải cách hành chính hiện nay. Cơ quan quản lý giảm bớt những thủ tục không cần thiết, còn người dân, doanh nghiệp được trao nhiều quyền chủ động hơn nhưng cũng phải nâng cao trách nhiệm.

 

Phóng viên: Theo ông, quy định mới mang lại lợi ích cụ thể nào, liệu có đáp ứng kỳ vọng rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ của doanh nghiệp xuất khẩu?

 

Ông Nguyễn Ngọc Linh: Lợi ích có thể nhìn thấy ngay ở ba yếu tố: nhanh hơn, đơn giản hơn và minh bạch hơn. Đó là những cải cách rất thiết thực.

 

Theo quy định mới, nếu không đăng ký xuất khẩu sang thị trường yêu cầu mã số, thời gian cấp chỉ còn tối đa 3 ngày làm việc. Với những thị trường có yêu cầu về mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói, thời gian giải quyết tối đa là 10 ngày làm việc, bao gồm cả kiểm tra điều kiện kỹ thuật.

 

Đây là sự thay đổi rất đáng kể nếu đặt trong bối cảnh mùa vụ nông sản diễn ra rất nhanh. Có những mặt hàng chỉ cần chậm vài ngày là doanh nghiệp có thể lỡ đơn hàng hoặc phải điều chỉnh kế hoạch logistics.

 

Quan trọng hơn, toàn bộ quá trình được thực hiện trên môi trường số. Hồ sơ được tiếp nhận, xử lý và quản lý trực tuyến; dữ liệu mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói được quản lý tập trung, công khai trên hệ thống của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng thời kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản. Điều này giúp doanh nghiệp tra cứu thuận lợi hơn, hạn chế tình trạng hồ sơ đi lòng vòng giữa nhiều cấp như trước.

 

Không chỉ vậy, trường hợp muốn bổ sung thêm thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp không phải xin mã số mới mà vẫn giữ nguyên mã số đã được cấp. Khi thay đổi tên đơn vị đại diện hoặc điều chỉnh địa giới hành chính, việc cấp lại cũng được giải quyết trong thời hạn chỉ 2 ngày làm việc.

 

Phóng viên: Việc chuyển mạnh sang hậu kiểm liệu có làm gia tăng rủi ro gian lận hay ảnh hưởng đến uy tín nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế không thưa ông?

 

Ông Nguyễn Ngọc Linh: Đây là điều khiến dư luận băn khoăn, nhưng theo tôi không nên hiểu rằng hậu kiểm là buông lỏng quản lý.

 

Ngược lại, hậu kiểm chỉ hiệu quả khi trách nhiệm của người kê khai được nâng lên và cơ quan quản lý có hệ thống dữ liệu đủ mạnh để giám sát.

 

Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định rất rõ, việc cấp mã số phải gắn với kiểm tra, giám sát, truy xuất nguồn gốc và xử lý vi phạm. Đồng thời, chỉ những trường hợp thị trường nhập khẩu yêu cầu mới thực hiện tiền kiểm.

 

Có nghĩa là người sản xuất được tạo thuận lợi hơn, nhưng nếu khai không đúng thực tế hoặc không duy trì điều kiện của vùng trồng, cơ sở đóng gói thì vẫn phải chịu trách nhiệm.

 

Ở góc độ xuất khẩu, mã số vùng trồng không phải là “tấm giấy thông hành” cấp một lần rồi sử dụng mãi mãi. Đó là cam kết về chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc và sự tuân thủ các yêu cầu của nước nhập khẩu.

 

Chúng ta từng chứng kiến không ít trường hợp một vài mã số bị cảnh báo đã ảnh hưởng tới cả ngành hàng. Vì vậy, doanh nghiệp cần xem việc duy trì mã số quan trọng không kém việc được cấp mã số.

 

Phóng viên: Với các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, theo ông, yêu cầu mới cần đặc biệt lưu ý là gì?

 

Ông Nguyễn Ngọc Linh: Điều đầu tiên theo tôi là doanh nghiệp cần thay đổi tư duy. Doanh nghiệp không nên chỉ quan tâm làm sao để “xin được mã số”, mà phải xây dựng hệ thống quản lý nội bộ đủ tốt để duy trì mã số lâu dài.

 

Mặc dù hồ sơ được đơn giản hóa, nhưng khi đăng ký xuất khẩu sang thị trường có yêu cầu, nội dung kiểm tra vẫn bao gồm tính chính xác của thông tin kê khai và việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu. Điều đó có nghĩa, hồ sơ ít đi nhưng yêu cầu về chất lượng không hề giảm.

 

Doanh nghiệp cần đầu tư bài bản vào quy trình sản xuất, nhật ký canh tác, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát thuốc bảo vệ thực vật, quản lý cơ sở đóng gói và đào tạo người lao động.

 

Một điểm mới rất tích cực đó là Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP khuyến khích các tổ chức, hợp tác xã và hộ dân liên kết hình thành vùng nguyên liệu tập trung để được cấp mã số.

 

Theo tôi, đây là hướng đi tất yếu. Thị trường xuất khẩu ngày càng yêu cầu sản lượng lớn, chất lượng đồng đều và truy xuất minh bạch. Những vùng sản xuất nhỏ lẻ sẽ rất khó đáp ứng nếu không liên kết.

 

Doanh nghiệp vì vậy cần đóng vai trò “đầu tàu”, cùng nông dân xây dựng vùng nguyên liệu thay vì chỉ thu mua sản phẩm vào cuối vụ.

 

Phóng viên: Theo ông, để Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP thực sự phát huy hiệu quả, các bên liên quan cần tập trung vào những giải pháp nào trong thời gian tới?

 

Theo tôi, cải cách thủ tục hành chính mới chỉ là điểm khởi đầu. Điều quyết định thành công của Nghị quyết không nằm ở việc cắt giảm bao nhiêu giấy tờ, mà ở cách tổ chức thực hiện trên thực tế.

 

Xa hơn mục tiêu rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP đang đặt nền móng cho một phương thức quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo hướng hiện đại, minh bạch và số hóa. Nếu được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, đây sẽ là động lực quan trọng giúp nông sản Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường xuất khẩu và củng cố uy tín trên chuỗi cung ứng toàn cầu.

 

Để đạt được mục tiêu đó, mỗi chủ thể đều phải thay đổi tư duy và nâng cao trách nhiệm.

 

Đối với chính quyền địa phương, đặc biệt là UBND cấp xã, đơn vị trực tiếp tiếp nhận và giải quyết hồ sơ, cần nhanh chóng làm chủ quy trình xử lý trên môi trường điện tử, bảo đảm giải quyết thủ tục đúng thời hạn, công khai, minh bạch và thực hiện hậu kiểm khách quan, hiệu quả. Song song với đó là việc cập nhật đầy đủ dữ liệu lên hệ thống để phục vụ quản lý và truy xuất nguồn gốc.

 

Về phía cơ quan quản lý chuyên ngành, cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu, tăng cường kết nối với các hệ thống liên quan, đồng thời thường xuyên hướng dẫn, cập nhật cho doanh nghiệp những yêu cầu kỹ thuật mới từ các thị trường nhập khẩu. Đây là yếu tố rất quan trọng để doanh nghiệp hạn chế rủi ro trong quá trình xuất khẩu.

 

Riêng đối với doanh nghiệp, có ba yêu cầu mang tính cốt lõi cần chú trọng như:

 

Thứ nhất, trung thực trong kê khai.

 

Thứ hai, chuyên nghiệp trong quản trị vùng nguyên liệu và cơ sở đóng gói. xuất nguồn gốc bài bản.

 

Thứ ba, chủ động cập nhật quy định của thị trường xuất khẩu.

 

Khi thủ tục hành chính đã được đơn giản hóa, lợi thế sẽ không còn thuộc về doanh nghiệp làm hồ sơ nhanh hơn, mà thuộc về những doanh nghiệp có năng lực quản trị tốt, tuân thủ đầy đủ quy định và biết tận dụng cơ hội để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

 

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!


Nguồn: Tạp chí Kinh tế - Tài chính

Quảng cáo sản phẩm