Dệt may và gỗ Việt trước sức ép từ thuế mới của Hoa Kỳ

03/08/2026 04:11 - 44 lượt xem

Thuế mới theo Mục 301 Đạo luật Thương mại Hoa Kỳ năm 1974, áp dụng từ ngày 24/7/2026 (theo giờ Hoa Kỳ), đang tạo thêm sức ép lên nhiều ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Trong đó, dệt may và gỗ đứng trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh và thích ứng.

 

Gia tăng áp lực cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu

 

Việc Hoa Kỳ triển khai mức thuế 12,5% đối với Việt Nam theo Mục 301 Đạo luật Thương mại năm 1974 đã mở ra một giai đoạn cạnh tranh mới đối với các ngành xuất khẩu chủ lực. Mặc dù mức thuế này không phải là rào cản lớn nhất từng xuất hiện, song trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng toàn cầu phục hồi chậm, chi phí sản xuất gia tăng và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, chính sách thuế mới vẫn tạo thêm áp lực đáng kể đối với doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt ở những ngành có tỷ trọng xuất khẩu lớn sang Hoa Kỳ như dệt may và gỗ.

 

Trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính (Bộ Tài chính), ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Thường trực, kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết, cuộc điều tra theo Mục 301 được tiến hành đối với 60 quốc gia, tập trung vào ba nội dung, bao gồm: lao động cưỡng bức, dư thừa công suất và sở hữu trí tuệ. Đến nay, Hoa Kỳ đã quyết định áp dụng chính sách thuế liên quan đến nội dung lao động cưỡng bức. Trong số các quốc gia bị điều tra, khoảng 17 nước được hưởng mức thuế 10%, còn Việt Nam thuộc nhóm chịu mức thuế 12,5%.

 

Theo ông Trương Văn Cẩm, điều đáng lo ngại không chỉ nằm ở chênh lệch 2,5 điểm phần trăm về thuế suất, mà còn ở lợi thế cạnh tranh của các đối thủ trực tiếp. Bangladesh, Indonesia, Campuchia và Malaysia có khả năng được hưởng cơ chế hạn ngạch thuế quan trong ba năm đối với một số sản phẩm sử dụng đầu vào từ Hoa Kỳ, qua đó có thể tiếp cận mức thuế 0% thay vì 10% như hiện nay. Trong khi đó, Việt Nam không nằm trong cơ chế này, khiến doanh nghiệp chịu bất lợi rõ rệt về giá bán và khả năng cạnh tranh tại thị trường xuất khẩu lớn nhất.

 

Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của dệt may Việt Nam. 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang thị trường này đạt 7,1 tỷ USD, tăng nhẹ 1,5% so với cùng kỳ và chiếm khoảng 45% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Tuy nhiên, nếu các mặt hàng thuộc phạm vi điều chỉnh của Mục 301, mức thuế 12,5% sẽ được cộng thêm vào thuế tối huệ quốc, làm gia tăng chi phí và thu hẹp dư địa cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

 

Ở góc độ ngành gỗ và lâm sản Việt Nam, ông Ngô Sỹ Hoài, Phó Chủ tịch, kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam nhận định, mức thuế mới không tạo ra bất ngờ lớn bởi doanh nghiệp đã quen với việc ứng phó nhiều biện pháp phòng vệ thương mại từ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, việc thị trường này liên tục xuất hiện các sắc thuế mới cùng các cuộc điều tra về dư thừa công suất và lao động cưỡng bức đang khiến tâm lý doanh nghiệp thêm thận trọng, đồng thời đặt ra yêu cầu phải chủ động hơn trong quản trị rủi ro và chiến lược thị trường.

 

Nâng năng lực nội để giữ vững thị phần xuất khẩu

 

Theo ông Trương Văn Cẩm, trong bối cảnh chính sách thương mại toàn cầu liên tục thay đổi, giải pháp căn cơ nhất đối với ngành dệt may Việt Nam không phải là cạnh tranh bằng giá mà là nâng cao năng lực nội tại. Doanh nghiệp cần chuẩn bị đầy đủ các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của đối tác, đồng thời tăng cường liên kết giữa nhãn hàng và nhà sản xuất nhằm chia sẻ chi phí, rủi ro trong chuỗi cung ứng.

 

Ông Cẩm cũng nhấn mạnh, Việt Nam không nên cạnh tranh trực diện với Bangladesh hay các đối thủ khác ở phân khúc giá thấp mà cần tập trung vào nhóm sản phẩm có chất lượng từ trung bình khá trở lên, nơi doanh nghiệp trong nước đang có lợi thế rõ hơn. Bên cạnh đó, việc tiếp tục đàm phán, giải trình để phía Hoa Kỳ ghi nhận những nỗ lực của Việt Nam trong hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về lao động cưỡng bức cũng có ý nghĩa quan trọng nhằm hạn chế bất lợi về chính sách thuế trong thời gian tới.

 

Đối với ngành gỗ và lâm sản, ông Ngô Sỹ Hoài cho rằng, doanh nghiệp cần coi năng lực phòng vệ thương mại là một phần chi phí thiết yếu của hoạt động sản xuất, kinh doanh thay vì chỉ xử lý khi phát sinh vụ việc. Việc chủ động quản trị rủi ro, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và nâng cao khả năng thích ứng sẽ giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào một thị trường đơn lẻ.

 

Trong bối cảnh xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm khoảng 6,5-7% trong 6 tháng đầu năm và tỷ trọng thị trường này giảm từ 54,6% xuống còn trên 49%, nhiều doanh nghiệp đã tích cực mở rộng xuất khẩu sang Trung Quốc, Nhật Bản và Liên minh châu Âu (EU), trong đó Trung Quốc tăng tới 46%, Nhật Bản tăng trên 20% và EU cũng ghi nhận tăng trưởng tích cực. Đây được xem là hướng đi phù hợp nhằm đa dạng hóa thị trường, giảm thiểu rủi ro từ các biện pháp phòng vệ thương mại.

 

Lãnh đạo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cũng kiến nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Công Thương, các bộ ngành liên quan tiếp tục tăng cường đàm phán với Hoa Kỳ để sớm hình thành khuôn khổ pháp lý ổn định về thuế, giúp doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, các Thượng vụ Việt Nam ở nước ngoài cần đẩy mạnh kết nối doanh nghiệp, mở rộng thị trường và quảng bá vị thế của ngành gỗ Việt Nam trên thị trường quốc tế.

 

Có thể nhận thấy, dù phải đối mặt với nhiều sức ép về thuế quan và cạnh tranh ngày càng gay gắt, song ngành dệt may và gỗ Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa duy trì đà tăng trưởng nếu tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh, đa dạng hóa thị trường, chủ động thích ứng với các chuẩn mực thương mại mới và tăng cường đối thoại chính sách với các đối tác lớn.

 

Nguồn: Tạp chí Kinh tế - Tài chính

Quảng cáo sản phẩm