Hàng Việt còn nhiều "đất" tăng thị phần tại Thổ Nhĩ Kỳ
22/07/2026 04:43
Với quy mô gần 90 triệu dân, vị trí cửa ngõ kết nối 3 châu lục cùng nhu cầu lớn đối với nhiều nhóm nguyên liệu và thực phẩm nhập khẩu, Thổ Nhĩ Kỳ được đánh giá là một trong những thị trường giàu tiềm năng đối với doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, để mở rộng thị phần, doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh về giá mà còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe, thích ứng với những thay đổi trong chính sách quản lý và hành vi tiêu dùng của thị trường này.
Thị trường gần 90 triệu dân mở ra nhiều cơ hội cho hàng Việt
Nếu trước đây doanh nghiệp Việt thường tập trung vào các thị trường truyền thống như Mỹ, EU hay Đông Bắc Á thì những năm gần đây, Thổ Nhĩ Kỳ đang nổi lên như một điểm đến đáng chú ý nhờ quy mô thị trường lớn và vị trí chiến lược trong chuỗi cung ứng khu vực.
Tại Hội thảo Cơ hội và thách thức phát triển thị trường Thổ Nhĩ Kỳ do Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) tổ chức chiều ngày 21/7, bà Nguyễn Việt Hằng, Tham tán Thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ cho biết, quốc gia này hiện có khoảng 86,1 triệu dân, hơn 90% dân số sống tại đô thị, tạo nên sức mua lớn đối với hàng tiêu dùng. Đặc biệt, nằm tại điểm giao thoa giữa châu Á, châu Âu và châu Phi, Thổ Nhĩ Kỳ vừa là trung tâm logistics, vừa là đầu mối trung chuyển hàng hóa quan trọng của khu vực. Mỗi năm nước này nhập siêu trên 100 tỷ USD, phản ánh nhu cầu lớn đối với nhiều loại nguyên liệu và hàng hóa từ nước ngoài.
Tuy nhiên, cơ hội không chỉ đến từ quy mô thị trường. Trong bối cảnh lạm phát cao, đồng Lira mất giá và chi phí sản xuất tăng, nhiều doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ đang có xu hướng tìm kiếm các nguồn nguyên liệu có giá cạnh tranh hơn để duy trì hoạt động. Đây được xem là khoảng trống để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của thị trường này.
Ở góc độ nghiên cứu thị trường, TS. Đinh Công Hoàng, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, Thổ Nhĩ Kỳ không chỉ là thị trường tiêu thụ mà còn là “cửa ngõ” để hàng hóa tiếp cận khu vực Trung Đông, Bắc Phi và châu Âu. Quốc gia này sở hữu hệ thống logistics phát triển, có liên minh thuế quan với Liên minh châu Âu và mạng lưới các hiệp định thương mại tự do rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tái xuất. Điều đó giúp giá trị của việc thâm nhập thị trường Thổ Nhĩ Kỳ vượt ra ngoài quy mô tiêu dùng nội địa.
Theo các chuyên gia, cơ hội của doanh nghiệp Việt Nam không nằm ở việc cạnh tranh trực diện với những sản phẩm Thổ Nhĩ Kỳ đã có thế mạnh, mà ở việc bổ sung những mặt hàng nước này không có lợi thế sản xuất hoặc đang thiếu hụt nguyên liệu.
Thổ Nhĩ Kỳ có nền nông nghiệp phát triển với nhiều sản phẩm ôn đới nhưng vẫn phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu các nguyên liệu nhiệt đới phục vụ chế biến và tái xuất. Đây là cơ hội cho nhiều mặt hàng như cà phê, hồ tiêu, hạt điều, gạo, dừa, quế, hồi hay các loại trái cây nhiệt đới của Việt Nam. Đáng chú ý, chiến lược đa dạng hóa nguồn cung của Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ nhằm giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống cũng đang mở thêm dư địa cho doanh nghiệp Việt Nam.
Ở lĩnh vực thực phẩm và đồ uống, bà Nguyễn Việt Hằng cho biết, tổng kim ngạch nhập khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ đạt khoảng 26,3 tỷ USD trong năm 2025, tăng gần 19% so với năm trước. Trong đó, nhiều nhóm hàng có quy mô nhập khẩu hàng tỷ USD như thức ăn chăn nuôi, dầu thực vật, ca cao, cà phê, trà, gia vị và các loại hạt. Đây đều là những lĩnh vực Việt Nam có khả năng tham gia chuỗi cung ứng nếu đáp ứng được các yêu cầu của thị trường.
Đối với một số ngành hàng cụ thể, dư địa tăng trưởng vẫn còn rất lớn. Việt Nam hiện giữ thị phần áp đảo đối với hạt điều nhưng ở nhiều mặt hàng khác như cà phê, gạo, chè hay thủy sản, thị phần vẫn còn khá khiêm tốn so với quy mô nhập khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ. Theo bà Nguyễn Việt Hằng, cơ hội của doanh nghiệp Việt không phải tạo ra nhu cầu mới mà là từng bước mở rộng thị phần trên thị trường hiện hữu thông qua việc nâng cao chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn và xây dựng hệ thống phân phối phù hợp.
Tiêu chuẩn ngày càng cao, cạnh tranh không còn nằm ở giá
Bên cạnh dư địa lớn về thị trường, các chuyên gia đều cho rằng Thổ Nhĩ Kỳ không phải là thị trường “dễ tính”. Khi lạm phát, tỷ giá và chi phí đầu vào biến động mạnh, cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng đều thay đổi cách tiếp cận, kéo theo yêu cầu mới đối với hàng nhập khẩu.
Theo bà Nguyễn Việt Hằng, chỉ số giá tiêu dùng của Thổ Nhĩ Kỳ vẫn ở mức rất cao, buộc nhiều doanh nghiệp phải điều chỉnh chiến lược kinh doanh. Không ít doanh nghiệp lựa chọn giải pháp giữ nguyên giá bán nhưng giảm khối lượng sản phẩm, trong khi người tiêu dùng chuyển sang ưu tiên những sản phẩm có giá hợp lý, dung lượng phù hợp và giá trị sử dụng cao hơn. Điều đó đồng nghĩa, doanh nghiệp Việt Nam muốn mở rộng thị phần không thể chỉ dựa vào lợi thế giá rẻ mà phải nghiên cứu kỹ hành vi tiêu dùng, quy cách bao bì và phân khúc khách hàng.
Xu hướng tiêu dùng mới cũng đặt ra những yêu cầu cao hơn về tính minh bạch và phát triển bền vững. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến thành phần sản phẩm, nguồn gốc xuất xứ, bao bì thân thiện môi trường và các yếu tố liên quan đến sức khỏe. Những sản phẩm có chứng nhận quốc tế, đặc biệt là chứng nhận Halal đối với thực phẩm, sẽ có nhiều lợi thế hơn khi tiếp cận thị trường Hồi giáo.
Cùng với thay đổi trong hành vi tiêu dùng là hàng loạt chính sách quản lý mới của Thổ Nhĩ Kỳ. Từ năm 2026, nước này đã triển khai nhiều quy định liên quan đến thu hồi và tái chế bao bì, ghi nhãn dinh dưỡng, minh bạch giá bán, quản lý thực phẩm mới cũng như siết chặt kiểm soát nhập khẩu thực phẩm thông qua hệ thống điện tử GGBS. Các quy định này làm gia tăng chi phí và thời gian tuân thủ, nhưng đồng thời cũng tạo lợi thế cho những doanh nghiệp có hồ sơ pháp lý đầy đủ, hệ thống quản lý chất lượng tốt và năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Theo TS. Đinh Công Hoàng, khi tiếp cận thị trường Thổ Nhĩ Kỳ, doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi tư duy từ xuất khẩu đơn thuần sang tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Thay vì chỉ tập trung bán thành phẩm hoặc cạnh tranh bằng giá, doanh nghiệp nên khai thác lợi thế về nguồn nguyên liệu, phát triển sản phẩm chế biến, xây dựng thương hiệu và lựa chọn đúng kênh phân phối phù hợp với từng phân khúc thị trường. Đặc biệt, Thổ Nhĩ Kỳ còn là trung tâm tái xuất sang nhiều khu vực khác, vì vậy việc hiện diện thành công tại thị trường này có thể mở ra cơ hội tiếp cận rộng hơn tới châu Âu, Trung Đông và Bắc Phi.
Tại hội thảo, ông Tạ Mạnh Cường, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Xúc tiến thương mại và Đầu tư (Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương) cho biết, Cục Xúc tiến thương mại đang tiếp tục xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp từ cung cấp thông tin thị trường, kết nối giao thương, tổ chức đoàn khảo sát đến đào tạo nâng cao năng lực đáp ứng các quy định của thị trường. Theo kế hoạch xúc tiến thương mại quốc gia năm 2026, từ ngày 25/8 đến 3/9, Cục sẽ tổ chức đoàn giao dịch thương mại tại Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha nhằm giúp doanh nghiệp tìm hiểu thực địa, kết nối trực tiếp với các đối tác tiềm năng và mở rộng cơ hội xuất khẩu.
Nguồn: Tạp chí Kinh tế - Tài chính
Các tin khác
- Argentina đưa Việt Nam vào nhóm thị trường ưu tiên mở rộng xuất khẩu nông sản (23/07/2026)
- Doanh nghiệp thủy sản tăng tốc xuất khẩu nửa cuối năm (23/07/2026)
- Xuất khẩu thép tăng mạnh tại các thị trường mới nổi (22/07/2026)
- "Đầu tàu" xuất khẩu của Việt Nam đang đổi vai (22/07/2026)
- Ngành gỗ đang bước vào giai đoạn tái tạo động lực tăng trưởng mới (22/07/2026)
Trang chủ
