Khơi thông rào cản logistics tạo động lực thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản

03/08/2026 04:10 - 43 lượt xem

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam tiếp tục duy trì tăng trưởng, song cũng đối mặt với nhiều rào cản về logistics, thị trường và nguồn nguyên liệu. Vì vậy, khơi thông những điểm nghẽn này sẽ tạo động lực mới, nâng cao sức cạnh tranh, hướng tới hoàn thành mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt trên 74 tỷ USD trong năm 2026.

 

Gỡ những “nút thắt” cản đà tăng trưởng xuất khẩu

 

Ngành nông, lâm, thủy sản Việt Nam tiếp tục là một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế, đóng góp lớn vào tăng trưởng xuất khẩu và bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, đằng sau những con số tích cực vẫn tồn tại nhiều điểm nghẽn khiến dư địa tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng, nhất là trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động nhanh, chi phí logistics leo thang và các tiêu chuẩn kỹ thuật của thị trường nhập khẩu ngày càng khắt khe.

 

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 7 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam ước đạt 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Toàn ngành xuất siêu 9,2 tỷ USD, song giảm 7,7% so với cùng kỳ năm trước do tốc độ nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu.

 

Trong đó, lâm sản xuất siêu gần 7,4 tỷ USD, tăng 1,4%; thủy sản xuất siêu 4,13 tỷ USD, tăng 17%; riêng nhóm nông sản chỉ còn xuất siêu 1,5 tỷ USD, giảm tới 60,6% khi giá nhiều mặt hàng chủ lực như: cà phê, gạo, cao su suy giảm, trong khi nhập khẩu nguyên liệu tăng mạnh. Những con số này cho thấy, sức chống chịu của ngành vẫn còn hạn chế trước những biến động của thị trường quốc tế.

 

Thực tế cũng cho thấy, tăng trưởng giữa các nhóm ngành hàng chưa đồng đều; liên kết giữa vùng nguyên liệu, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến và doanh nghiệp xuất khẩu còn lỏng lẻo; sự phụ thuộc vào một số thị trường lớn vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro khi các biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu về phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải liên tục được nâng lên.

 

Theo ông Trần Chí Dũng, Ủy viên Thường vụ Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA), để nâng cao năng lực cạnh tranh, không thể chỉ tập trung vào sản xuất mà cần giải quyết đồng thời các điểm nghẽn của chuỗi cung ứng.

 

Ông Dũng cho rằng, doanh nghiệp xuất khẩu không chỉ chứng minh chất lượng sản phẩm mà còn phải minh bạch toàn bộ dữ liệu từ vùng trồng, hành trình logistics đến dấu chân carbon nhằm đáp ứng các yêu cầu mới như: CBAM, EUDR, ESG và mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.

 

Vì vậy, đại diện VLA đề xuất triển khai “hộ chiếu số” cho nông sản, phát triển hệ sinh thái dữ liệu liên thông giữa doanh nghiệp, logistics, hải quan và cơ quan kiểm dịch theo nguyên tắc “nhập dữ liệu một lần, sử dụng cho toàn bộ hành trình”, đồng thời phổ cập giải pháp này cho ít nhất 5% sản phẩm chủ lực chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu tuân thủ.

 

Không chỉ dừng ở chuyển đổi số, Trần Chí Dũng xác định, giảm chi phí logistics là điều kiện tiên quyết để gia tăng sức cạnh tranh. Theo ông Dũng, mỗi giờ chờ tại cảng, mỗi container lạnh thiếu hụt trong mùa cao điểm hay các khoản phụ phí phát sinh đều làm giảm giá trị nông sản, và người chịu thiệt nhiều nhất chính là nông dân.

 

Bởi vậy, việc bình ổn giá cước, tối ưu vận tải container, phát triển chuỗi cung ứng lạnh và xây dựng hạ tầng dữ liệu xác thực sẽ trở thành nền tảng quan trọng để rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí và tạo động lực mới cho xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong những tháng cuối năm.

 

Xây dựng chuỗi giá trị bền vững để bứt phá thị trường

 

Nếu logistics được xem là “mạch máu” của chuỗi xuất khẩu thì nguồn nguyên liệu ổn định, chất lượng cao chính là nền tảng quyết định khả năng tăng trưởng dài hạn. Bởi vậy, bên cạnh việc giảm chi phí và hoàn thiện hạ tầng thương mại, nhiều hiệp hội ngành hàng cho rằng cần tạo bước đột phá trong tổ chức sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu và nâng cao năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

 

Đối với ngành tôm, một trong những lĩnh vực đóng góp lớn nhất cho xuất khẩu thủy sản, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết.

 

Theo ông Mai Văn Hoàng, Chủ tịch Hiệp hội Tôm Việt Nam, 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu tôm đạt khoảng 2,3 tỷ USD, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm 2025 và chiếm khoảng 40,5% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Sản lượng tôm đạt khoảng 700.000 tấn, tăng 8,1%, trong đó tôm thẻ chân trắng chiếm gần 500.000 tấn; Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục là trung tâm sản xuất với khoảng 90% diện tích và sản lượng.

 

Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng, ngành tôm Việt Nam cần được tiếp sức bằng các chính sách phát triển nuôi công nghệ cao, đầu tư hạ tầng thủy lợi, điện ba pha cho vùng nuôi trọng điểm, nghiên cứu dịch bệnh, chủ động nguồn gen tôm bố mẹ và tăng cường minh bạch truy xuất nguồn gốc nhằm bảo vệ thương hiệu tôm Việt Nam trước các yêu cầu kiểm soát ngày càng nghiêm ngặt của thị trường quốc tế.

 

Ở góc nhìn dài hạn hơn, bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam cho rằng, dư địa tăng trưởng mới của thủy sản không chỉ nằm ở các ngành hàng truyền thống mà còn ở phát triển nuôi biển công nghiệp. Theo bà Nhung, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nhiều năm qua vẫn tăng nhưng tốc độ tăng trưởng có xu hướng chậm lại do thiếu nguồn nguyên liệu chất lượng cao, trong khi khả năng mở rộng sản lượng tôm và cá tra không còn nhiều.

 

Vì vậy, phát triển nuôi biển công nghiệp, hình thành các cụm nuôi biển tập trung, ứng dụng công nghệ hiện đại, tích hợp dịch vụ hậu cần và thu hút doanh nghiệp đầu tư sẽ tạo nguồn nguyên liệu quy mô lớn, ổn định cho chế biến xuất khẩu, đồng thời mở ra không gian phát triển mới gắn với kinh tế biển bền vững.

 

Nhìn tổng thể, để nâng cao sức cạnh tranh cho ngành nông, lâm, thủy sản Việt Nam, cần đồng thời đổi mới tư duy quản trị chuỗi giá trị. Từ “hộ chiếu số”, hạ tầng dữ liệu liên thông, giảm chi phí logistics đến phát triển vùng nuôi công nghệ cao và nuôi biển công nghiệp, qua đó, góp phần hình thành chuỗi cung ứng minh bạch, hiện đại, linh hoạt trước biến động thị trường.

 

Khi những “nút thắt” về hạ tầng, logistics, nguồn nguyên liệu và liên kết sản xuất được tháo gỡ đồng bộ, ngành nông, lâm, thủy sản Việt Nam sẽ có thêm dư địa để nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng thị trường và hiện thực hóa mục tiêu xuất khẩu trên 74 tỷ USD trong năm 2026, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững trong những năm tiếp theo.

 

Nguồn: Tạp chí Kinh tế - Tài chính

Quảng cáo sản phẩm