Ngành gỗ vượt sức ép thuế, hướng tới mục tiêu 19 tỷ USD

12/08/2026 03:37 - 34 lượt xem

Sau 7 tháng năm 2026, xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ đạt 10,1 tỷ USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, nhưng thấp hơn so với kỳ vọng. Trong bối cảnh sức ép thuế và phòng vệ thương mại từ Hoa Kỳ gia tăng, ngành gỗ đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 19 tỷ USD trong năm 2026. Trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ông Ngô Sỹ Hoài, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST) đã chia sẻ những nhận định, đưa ra các giải pháp nhằm giữ vững thị trường và nâng cao giá trị xuất khẩu của ngành gỗ trong thời gian tới.

 

Phóng viên: Thưa ông, sau 7 tháng năm 2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ mới đạt khoảng 10,1 tỷ USD, tăng 5% so với cùng kỳ, thấp hơn đáng kể so với kỳ vọng. Ông đánh giá thế nào về kết quả này và đâu là những yếu tố đang chi phối sức tăng trưởng của ngành?

 

Ông Ngô Sỹ Hoài: Có thể nói, năm nay là một năm khá đặc biệt và cũng là năm ngành gỗ Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn. Trong hơn 20 năm qua, ngành công nghiệp gỗ Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân trên 10% mỗi năm, nhưng năm 2026 gần như không thể đạt mức tăng trưởng trên 10% như quyết tâm chung của Chính phủ.

 

Trong 7 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ ước đạt khoảng 10,1 tỷ USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng có thể chấp nhận được trong bối cảnh hiện nay, song nếu so với mục tiêu và truyền thống tăng trưởng của ngành thì rõ ràng còn thấp.

 

Đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ, chủ yếu là đồ nội, ngoại thất, chỉ đạt khoảng 6,4 tỷ USD, giảm 2,3% so với cùng kỳ. Riêng tháng 7/2026, xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ đạt khoảng 1,55 tỷ USD, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước, nhưng xuất khẩu sản phẩm gỗ chỉ đạt khoảng 950 triệu USD, giảm 5,5% so với cùng kỳ.

 

Nguyên nhân chủ yếu đến từ bên ngoài, đặc biệt là sức ép từ các chính sách thuế và phòng vệ thương mại của Hoa Kỳ. Không nhiều ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam chịu tác động mạnh và liên tục như ngành gỗ. Trong khi đó, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất, thường xuyên chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành.

 

Năm 2025, Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ khoảng 9,46 tỷ USD sản phẩm gỗ, tương đương 54,6% tổng kim ngạch. Trong 7 tháng năm 2026, xuất khẩu sang thị trường này đã giảm khoảng 6%, tạo sức ép rất lớn lên kết quả chung của ngành.

 

Ông Ngô Sỹ Hoài: Rủi ro lớn nhất hiện nay là tính bất ổn và khó đoán định của chính sách thương mại Hoa Kỳ. Ngành gỗ đang cùng lúc đối mặt với nhiều loại thuế và các cuộc điều tra. Một số sản phẩm như: tủ bếp, bàn trang điểm, salon phòng khách đang chịu thuế 25% theo Mục 232 Đạo luật Thương mại mở rộng năm 1962 của Hoa Kỳ. Đặc biệt, gỗ dán xuất khẩu sang Hoa Kỳ, với kim ngạch khoảng 400 triệu USD mỗi năm, vừa phải chịu mức thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp lên tới 137,8%.

 

Bên cạnh đó là điều tra theo Mục 301 Đạo luật Thương mại Hoa Kỳ năm 1974 về lao động cưỡng bức và dư thừa công suất. Việt Nam hiện thuộc nhóm chịu mức thuế 12,5% liên quan đến lao động cưỡng bức, cao hơn mức 10% mà một số quốc gia khác được hưởng. Cuộc điều tra về dư thừa công suất cũng đáng lo ngại, bởi Việt Nam đang là một trong những nhà cung ứng đồ gỗ lớn nhất cho thị trường Hoa Kỳ.

 

Tuy nhiên, ngành gỗ không thể vì khó khăn tại Hoa Kỳ mà bỏ thị trường này. Điều cần làm là giữ vững khách hàng, rà soát từng nhóm sản phẩm, mã hàng và chuỗi cung ứng; đồng thời chủ động quản trị rủi ro phòng vệ thương mại, coi đây là một phần chi phí thiết yếu của hoạt động sản xuất, kinh doanh.

 

Song song với đó phải đa dạng hóa thị trường. Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sang Trung Quốc, Nhật Bản và EU đều có tín hiệu tích cực; riêng Trung Quốc tăng mạnh, Nhật Bản cũng tăng trên 20%. Đây là hướng đi cần tiếp tục đẩy mạnh, bởi giảm phụ thuộc vào một thị trường đơn lẻ là yêu cầu ngày càng cấp thiết.

 

Một điểm đáng chú ý nữa là ngành gỗ Việt Nam đang tăng mạnh nhập khẩu nguyên liệu từ Hoa Kỳ. Năm 2025, nhập khẩu gỗ từ Hoa Kỳ đã vượt 600 triệu USD và 6 tháng đầu năm nay đạt khoảng 400 triệu USD; cả năm có khả năng lên khoảng 900 triệu USD. Đây vừa là nhu cầu nguyên liệu, vừa thể hiện thiện chí và đóng góp của ngành trong việc cân bằng quan hệ thương mại hai chiều.

 

Phóng viên: Để hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 19 tỷ USD trong năm 2026, theo ông những vướng mắc nào cần tháo gỡ, đâu là những giải pháp then chốt cho những tháng cuối năm?

 

Ông Ngô Sỹ Hoài: Năm 2026, ngành gỗ Việt Nam quyết tâm đóng góp khoảng gần 30% vào kim ngạch xuất khẩu chung toàn ngành nông nghiệp (khoảng 74 tỷ USD) và mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu hai con số của cả nước. Theo đó, mục tiêu của ngành gỗ là phấn đấu đạt khoảng 18,5 tỷ USD từ gỗ và sản phẩm gỗ; cộng thêm trên 1 tỷ lâm sản ngoài gỗ, tổng kim ngạch toàn ngành lâm nghiệp có thể đạt khoảng 19,5 tỷ USD, nếu thị trường không diễn biến quá bất lợi.

 

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, VIFOREST xác định 5 nhóm giải pháp trọng tâm, bao gồm: Thứ nhất, giữ vững các thị trường chủ lực, đặc biệt là Hoa Kỳ, phối hợp với doanh nghiệp rà soát sản phẩm, mã hàng, chuỗi cung ứng, tăng trao đổi với khách hàng và nhà nhập khẩu để duy trì đơn hàng, hạn chế đứt gãy thương mại.

 

Thứ hai, mở rộng và đa dạng hóa thị trường, tập trung vào Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, EU, Ấn Độ, Canada, Australia, Trung Đông và các thị trường mới nổi. Hoạt động xúc tiến cũng cần chuyển từ cách làm chung sang kết nối theo từng sản phẩm, từng khách hàng để tạo thêm đơn hàng ngay trong quý III và IV.

 

Thứ ba, khai thác tốt thị trường trong nước, nhất là các dự án nhà ở xã hội, trường học, bệnh viện, công sở, khách sạn, khu du lịch và hạ tầng. Đây là cách giúp doanh nghiệp duy trì công suất, việc làm và dòng tiền trong bối cảnh xuất khẩu gặp khó.

 

Thứ tư, nâng giá trị gia tăng, chuyển mạnh sang sản phẩm có thiết kế, thương hiệu và hàm lượng chế biến sâu cao hơn; đồng thời tận dụng phụ phẩm để phát triển viên nén, vật liệu mới, sản phẩm sinh khối và kinh tế tuần hoàn.

 

Thứ năm, phát triển nguồn nguyên liệu bền vững, tăng sử dụng gỗ rừng trồng trong nước, gỗ có chứng chỉ và gỗ nhập khẩu hợp pháp; đẩy mạnh số hóa hồ sơ truy xuất nguồn gốc, đáp ứng Quy định của EU về các sản phẩm không gây phá rừng (EUDR) và liên kết với chủ rừng, hợp tác xã, hộ trồng rừng để từng bước chuyển sang kinh doanh gỗ lớn.

 

Cùng với nỗ lực của doanh nghiệp, ngành gỗ Việt Nam kiến nghị, cần tháo gỡ những bất cập về chính sách. Đáng chú ý là đề nghị bỏ thuế xuất khẩu 25% đối với gỗ xẻ sản xuất từ gỗ tròn nhập khẩu và thuế 5% đối với viên nén đen, than ép mùn cưa. Theo tính toán của VIFOREST, nếu tháo gỡ được các vướng mắc này, kim ngạch xuất khẩu ngành gỗ có thể tăng thêm khoảng 500-700 triệu USD mỗi năm.

 

Nếu làm được những điều đó, mục tiêu xuất khẩu trên 19 tỷ USD trong năm 2026 không chỉ là bài toán về con số, mà quan trọng hơn đây sẽ là bước chuyển để ngành gỗ Việt Nam xây dựng một nền sản xuất có sức chống chịu tốt hơn, ít phụ thuộc hơn, tạo giá trị cao hơn và từng bước khẳng định vị thế “Gỗ Việt Nam hợp pháp, bền vững và có trách nhiệm” trên thị trường toàn cầu.

 

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!

 

Nguồn: Trọng Nghĩa, Tạp chí Kinh tế - Tài chính

Quảng cáo sản phẩm