Phát triển nguồn nguyên liệu bền vững để nâng tầm giá trị xuất khẩu gỗ

27/07/2026 01:45 - 36 lượt xem

Nguồn nguyên liệu bền vững đang trở thành điều kiện tiên quyết để ngành gỗ Việt Nam nâng cao giá trị gia tăng, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và mở rộng thị trường xuất khẩu. Muốn đạt mục tiêu này, cần đồng bộ giải pháp từ chính sách, liên kết chuỗi đến đổi mới mô hình quản trị hiệu quả.

 

Liên kết chuỗi để xây dựng nền tảng nguyên liệu bền vững

 

Sau hơn hai thập kỷ tăng trưởng mạnh, ngành gỗ Việt Nam đã khẳng định vị thế là một trong 8 ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch trên 10 tỷ USD mỗi năm, tạo việc làm cho hàng triệu lao động và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, lợi thế cạnh tranh không còn chỉ dựa vào năng lực sản xuất hay chi phí lao động, mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng và tính bền vững của chuỗi cung ứng nguyên liệu.

 

Những yêu cầu về nguồn gốc gỗ hợp pháp, quản lý rừng bền vững, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải carbon và trách nhiệm xã hội đang trở thành điều kiện bắt buộc tại nhiều thị trường lớn, buộc ngành gỗ Việt Nam phải chuyển đổi từ tư duy khai thác lợi thế chi phí sang phát triển chuỗi giá trị bền vững.

 

Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, hỗ trợ người trồng rừng áp dụng các tiêu chuẩn quản lý bền vững và ký kết hợp đồng bao tiêu. Tuy nhiên, các mối liên kết vẫn thiếu tính ổn định khi giá nguyên liệu biến động, thị trường xuất khẩu gặp khó khăn hoặc thương lái đưa ra mức giá cao hơn.

 

Bên cạnh đó, phần lớn diện tích rừng trồng vẫn được khai thác theo chu kỳ ngắn, quy mô nhỏ lẻ, chưa đáp ứng yêu cầu về gỗ lớn, chất lượng cao và khả năng truy xuất nguồn gốc phục vụ chế biến sâu.

 

Theo PGS, TS. Lý Tuấn Trường, Viện trưởng Viện Công nghiệp gỗ và Nội thất - Trường Đại học Lâm nghiệp, nguyên nhân cốt lõi không nằm ở việc thiếu doanh nghiệp, thiếu người trồng rừng hay thiếu cơ sở nghiên cứu, mà là chưa hình thành được cơ chế để các chủ thể cùng kiến tạo và chia sẻ giá trị.

 

Ông Trường cho rằng, đã đến lúc cần chuyển từ tư duy phát triển “chuỗi cung ứng nguyên liệu” sang xây dựng “hệ sinh thái đồng kiến tạo giá trị”, trong đó doanh nghiệp, người trồng rừng, cơ sở nghiên cứu, Nhà nước và các tổ chức trung gian cùng tham gia tạo lập, chia sẻ lợi ích, tri thức và dữ liệu để nâng cao sức chống chịu của chuỗi nguyên liệu trước biến động thị trường.

 

Ông Nguyễn Thế Mai, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Lâm nghiệp Tháng Năm cho biết, doanh nghiệp hiện có công suất 450.000 m³ sản phẩm mỗi năm, tương đương nhu cầu khoảng 1 triệu tấn gỗ nguyên liệu. Đây là nhu cầu rất lớn, trong khi nguồn gỗ lớn trong nước ngày càng khan hiếm vì phần lớn rừng trồng vẫn được khai thác sau 3-4 năm để sản xuất dăm gỗ xuất khẩu. Thực trạng này khiến các doanh nghiệp chế biến sâu phải cạnh tranh quyết liệt khi thu mua nguyên liệu, thậm chí nhập khẩu gỗ với chi phí cao, làm suy giảm sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trường quốc tế.

 

Theo ông Mai, cần khuyến khích kéo dài chu kỳ trồng rừng, đồng thời hoàn thiện cơ chế liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ trồng rừng, tổ chức tín dụng và đơn vị chứng nhận nhằm hình thành chuỗi giá trị khép kín, bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định cả về số lượng lẫn chất lượng, tạo nền tảng cho ngành gỗ Việt Nam phát triển bền vững, nâng cao giá trị gia tăng lâu dài hơn.

 

Hoàn thiện chuỗi giá trị để mở rộng thị trường xuất khẩu

 

Bên cạnh việc phát triển vùng nguyên liệu, yêu cầu ngày càng khắt khe từ các thị trường nhập khẩu cũng đang đặt ra đòi hỏi cấp thiết về xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, hợp pháp và bền vững. Các quy định như: Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), Chỉ thị Năng lượng tái tạo sửa đổi (RED III), cùng các tiêu chuẩn ESG và cam kết Net Zero không chỉ đánh giá chất lượng sản phẩm mà còn yêu cầu doanh nghiệp gỗ chứng minh đầy đủ nguồn gốc nguyên liệu, khả năng truy xuất, mức phát thải và trách nhiệm môi trường trong toàn bộ chuỗi giá trị. Điều đó đồng nghĩa, lợi thế cạnh tranh của ngành gỗ Việt Nam sẽ được quyết định bởi năng lực quản trị chuỗi cung ứng nhiều hơn là lợi thế về chi phí sản xuất như trước đây.

 

Ở góc độ doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu, ông Phạm Đình Thắng, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Triệu Thái Sơn cho rằng, doanh nghiệp hiện vận hành hệ thống nhà máy với công suất khoảng 15.000 m³ ván ép mỗi tháng, sử dụng hoàn toàn nguyên liệu keo trong nước và tạo việc làm cho hơn 1.000 lao động. Riêng năm 2025, hai nhà máy trong hệ thống xuất khẩu khoảng 114.579 m³ sản phẩm, tương đương 2.491 container.

 

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất vẫn là nguồn nguyên liệu hợp pháp, đủ tuổi và đạt chất lượng cho chế biến sâu ngày càng khan hiếm. Theo ông Thắng, cùng khoảng 3 tấn gỗ keo tươi, nếu chỉ băm dăm xuất khẩu sẽ tạo giá trị khoảng 3 triệu đồng; sản xuất viên nén đạt khoảng 6 triệu đồng; nhưng đưa vào chuỗi chế biến sâu kết hợp tận dụng phụ phẩm có thể tạo giá trị vượt 20 triệu đồng. Những con số này cho thấy, dư địa gia tăng giá trị của ngành gỗ Việt Nam vẫn còn rất lớn nếu nguồn nguyên liệu được tổ chức lại theo hướng ưu tiên chế biến sâu.

 

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, doanh nghiệp kiến nghị cần sớm rà soát hoạt động của các cơ sở băm dăm, điểm thu mua và trạm cân tự phát; khuyến khích kéo dài chu kỳ trồng rừng lên 5-7 năm nhằm hình thành vùng gỗ lớn; đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu số về vùng nguyên liệu, tăng cường truy xuất nguồn gốc và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tín dụng xanh để đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.

 

Từ góc nhìn quản trị chuỗi cung ứng, ThS. Bùi Thị Nha Trang, Quản lý bộ phận Chứng nhận các tiêu chuẩn bền vững Control Union Việt Nam nhận định, thương mại lâm sản toàn cầu đang chuyển từ mô hình “dựa trên niềm tin” sang “dựa trên bằng chứng”. Do đó, các hệ thống chứng nhận quốc tế như: FSC, PEFC, ISCC, Green Gold Label hay SBP không còn đơn thuần là công cụ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, mà đã trở thành nền tảng giúp doanh nghiệp gỗ chứng minh tính hợp pháp của nguồn nguyên liệu, minh bạch dữ liệu, quản trị phát thải và nâng cao năng lực cạnh tranh.

 

Việc chủ động đầu tư vào hệ thống truy xuất nguồn gốc, số hóa dữ liệu và quản trị chuỗi cung ứng sẽ tạo lợi thế để doanh nghiệp gỗ của Việt Nam tiếp cận các thị trường có giá trị cao, đồng thời sẵn sàng thích ứng với những yêu cầu mới của thương mại xanh.

 

Có thể thấy, phát triển nguồn nguyên liệu bền vững không còn là nhiệm vụ riêng của người trồng rừng hay doanh nghiệp chế biến, mà đòi hỏi sự đồng hành của Nhà nước, cơ sở nghiên cứu, tổ chức chứng nhận và các thành phần trong chuỗi giá trị. Khi cơ chế chính sách được hoàn thiện, liên kết chuỗi được củng cố và quản trị hiện đại trở thành nền tảng phát triển, ngành gỗ Việt Nam sẽ có thêm động lực để nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng thị trường xuất khẩu và khẳng định vị thế trong chuỗi cung ứng lâm sản bền vững toàn cầu.

 

Nguồn: Tạp chí Kinh tế - Tài chính

Quảng cáo sản phẩm