Phòng vệ thương mại: Công cụ bảo vệ sản xuất trước tác động bất lợi của hàng nhập khẩu
07/08/2026 06:24
Trước sức ép ngày càng rõ nét của hàng nhập khẩu, phòng vệ thương mại (PVTM) đang trở thành công cụ cần thiết để bảo vệ sản xuất trong nước trước những hành vi cạnh tranh không công bằng. Hiệu quả của công cụ này không chỉ được đo bằng khả năng hạn chế thiệt hại cho doanh nghiệp nội địa, mà còn phụ thuộc vào việc bảo đảm kỷ luật cạnh tranh, duy trì nguồn cung và hài hòa lợi ích chung của nền kinh tế.
Bảo vệ sản xuất phải dựa trên chứng cứ
Hội nhập sâu rộng giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường, công nghệ và nguồn nguyên liệu với chi phí cạnh tranh hơn. Ở chiều ngược lại, việc mở cửa thị trường cũng làm gia tăng sức ép lên các ngành sản xuất trong nước, nhất là khi hàng nhập khẩu tăng nhanh, giá giảm mạnh hoặc có dấu hiệu được bán dưới giá trị thông thường.
Trong bối cảnh đó, PVTM không còn là công cụ chỉ được sử dụng trong những tình huống đặc biệt, mà đang trở thành một bộ phận quan trọng của chính sách thương mại, giúp duy trì môi trường cạnh tranh công bằng và bảo vệ năng lực sản xuất trước tác động bất lợi của hàng nhập khẩu.
Theo Bộ Công Thương, tính đến giữa năm 2026, Việt Nam đã áp dụng 48 biện pháp PVTM, trong đó 35 biện pháp đang được duy trì hiệu lực. Riêng 5 tháng đầu năm 2026, Cục PVTM đã và đang xử lý 15 vụ việc, bao gồm điều tra mới, rà soát và tiếp nhận hồ sơ. Các biện pháp được áp dụng đối với nhiều ngành sản xuất có quy mô lớn như thép, kính, ván sợi MDF, qua đó góp phần bảo vệ hoạt động sản xuất, việc làm và đầu tư trong nước.
Số lượng vụ việc PVTM thời gian qua phản ánh nhu cầu sử dụng công cụ phòng vệ ngày càng lớn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải nhận diện đúng bản chất; các biện pháp phòng vệ không nhằm ngăn cản hàng nhập khẩu thông thường, càng không phải cơ chế bảo hộ vô điều kiện cho những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả.
Theo ông Lê Mạnh Hùng, Bộ trưởng Bộ Công Thương, Cục PVTM cần chủ động đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng vệ đang được Việt Nam áp dụng để có cơ sở điều chỉnh, hoàn thiện chính sách trong thời gian tới. Đồng thời, tăng cường phối hợp với các đơn vị liên quan trong việc theo dõi tình hình nhập khẩu, hoạt động của doanh nghiệp FDI và các dấu hiệu bất thường trong thương mại quốc tế.
Để một biện pháp được áp dụng, ngành sản xuất trong nước cần cung cấp đủ chứng cứ về hành vi bán phá giá hoặc trợ cấp, mức độ thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu với thiệt hại đó; trong khi đó cơ quan điều tra thẩm tra số liệu, đánh giá ý kiến của các bên liên quan và cân nhắc tác động đối với người tiêu dùng cũng như các ngành sử dụng sản phẩm làm đầu vào. Đây chính là ranh giới giữa PVTM chính đáng và xu hướng dựng thêm rào cản đối với cạnh tranh.
Nếu không có công cụ ứng phó phù hợp, hàng nhập khẩu bị bán phá giá có thể làm giảm sản lượng, thị phần, lợi nhuận và khả năng đầu tư của doanh nghiệp nội địa, về lâu dài có thể phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn cung bên ngoài.
Tuy nhiên, nếu biện pháp được áp dụng quá rộng hoặc vượt quá mức cần thiết, chi phí có thể được chuyển sang doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu, nhà phân phối và người tiêu dùng. Vì vậy, PVTM chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi biện pháp áp dụng có phạm vi rõ ràng, mức độ tương xứng và dựa trên những dữ liệu đã được kiểm chứng.
Cân bằng giữa bảo vệ sản xuất trong nước và lợi ích thị trường
Vụ điều tra chống bán phá giá đối với một số sản phẩm gạch gốm, sứ ốp lát có xuất xứ từ Ấn Độ mới được Cục PVTM tham vấn công khai là trường hợp điển hình cho yêu cầu cân bằng giữa bảo vệ sản xuất và duy trì lợi ích thị trường.
Vụ việc diễn ra trong bối cảnh thương mại Việt Nam - Ấn Độ tăng trưởng mạnh, Ấn Độ vừa là nguồn cung hàng hóa và nguyên liệu quan trọng, vừa là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam. Do đó, việc xử lý một vụ việc phòng vệ cần được đặt trong nguyên tắc bảo đảm cạnh tranh công bằng, không đồng nhất điều tra một mặt hàng với việc hạn chế quan hệ thương mại chung.
Trước đó, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 2333/QĐ-BCT, điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với một số sản phẩm gạch gốm, sứ ốp lát xuất xứ từ Ấn Độ, mã vụ việc AD23. Hồ sơ yêu cầu điều tra được 9 doanh nghiệp đại diện ngành sản xuất trong nước nộp đầy đủ, hợp lệ, được cơ quan điều tra tiếp nhận và xem xét.
Tại phiên tham vấn công khai, đại diện ngành sản xuất trong nước cho rằng lượng gạch ốp lát nhập khẩu từ Ấn Độ tăng từ gần 3 triệu m² lên khoảng 10 triệu m² qua bốn kỳ phân tích; giá trị nhập khẩu tăng từ khoảng 22 triệu USD lên 62 triệu USD. Trong thời kỳ điều tra, lượng nhập khẩu tiếp tục lên gần 11,5 triệu m², trị giá trên 73 triệu USD.
Đáng chú ý, đây không phải là hiện tượng đã dừng lại trong quá khứ, mà là một xu hướng đang tiếp diễn với một mức độ ngày càng tăng.
Hiệp hội Gốm sứ xây dựng Việt Nam cảnh báo kim ngạch nhập khẩu sản phẩm gạch ốp lát từ Ấn Độ có thể tiến tới 100 triệu USD trong tương lai gần, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các doanh nghiệp sản xuất gạch ốp lát trong nước nếu xu hướng trên tiếp tục mà không có biện pháp PVTM được áp dụng.
Ở chiều ngược lại, đơn vị đại diện nhóm nhà sản xuất, xuất khẩu Rollza Granito LLP cho biết, doanh nghiệp đã hợp tác và cung cấp dữ liệu từ hệ thống kế toán, hồ sơ giao dịch thực tế. Phía Rollza cho rằng dữ liệu của doanh nghiệp không thể hiện hành vi bán phá giá; đồng thời đề nghị cơ quan điều tra sử dụng số liệu riêng để tính toán biên độ thay vì suy rộng một kết quả chung.
Những lập luận trái chiều cho thấy. ý nghĩa của quá trình tham vấn và thẩm tra chứng cứ trong các vụ việc điều tra, khi đây không chỉ là bước thủ tục mà là cơ chế bảo đảm tính khách quan, minh bạch và cân bằng lợi ích giữa các bên liên quan.
Ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục PVTM nhấn mạnh, phiên tham vấn là cơ hội để các bên công khai quan điểm và cung cấp thông tin cần thiết trước khi cơ quan điều tra đưa ra kết luận chính thức.
Từ trường hợp cụ thể trên cho thấy, bảo vệ sản xuất trong nước trước cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu không phải trách nhiệm riêng của cơ quan quản lý. Doanh nghiệp cần chủ động theo dõi thị trường, chuẩn hóa dữ liệu và kịp thời chia sẻ thông tin; bên cạnh đó hiệp hội phải phát huy vai trò kết nối, cảnh báo và đại diện lợi ích chung; cơ quan quản lý cần bảo đảm quá trình điều tra minh bạch, khách quan và tuân thủ quy định.
Phép thử lớn nhất vì thế không chỉ là có áp dụng biện pháp hay không, mà là khả năng bảo vệ sản xuất trong nước mà không làm suy giảm kỷ luật cạnh tranh và lợi ích chung của nền kinh tế. Một quyết định dựa trên chứng cứ, có phạm vi chính xác và mức độ tương xứng sẽ giúp củng cố niềm tin của doanh nghiệp, người tiêu dùng và các đối tác vào một thị trường minh bạch, công bằng.
Nguồn: Minh Hà, Tạp chí Kinh tế - Tài chính
Các tin khác
- Xuất khẩu số sang EU: Lợi nhuận không còn đến từ ưu đãi thuế (07/08/2026)
- Mỹ áp thuế 12,5%: Doanh nghiệp xuất khẩu xoay trục để giữ lợi thế cạnh tranh (07/08/2026)
- 167 doanh nghiệp Ba Lan đủ điều kiện xuất khẩu thực phẩm sang Việt Nam (07/08/2026)
- Doanh nghiệp nâng cao tuân thủ trong toàn bộ chuỗi cung ứng dệt may (07/08/2026)
- Tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp thủy sản xuất khẩu sang Hoa Kỳ (07/08/2026)
Trang chủ
