Sầu riêng gần chạm mốc 2 tỷ USD, hướng tới phát triển chuyên nghiệp và bền vững

09/09/2026 03:36 - 36 lượt xem

8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sầu riêng Việt Nam đạt gần 2 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vị thế ngành hàng chủ lực của rau quả Việt Nam. Trước yêu cầu ngày càng cao từ thị trường, ngành sầu riêng đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi chuyên nghiệp, minh bạch, chất lượng và phát triển bền vững.

 

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, những năm gần đây, sầu riêng đã nhanh chóng vươn lên trở thành một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Quy mô kim ngạch tăng mạnh từ 177,7 triệu USD năm 2021 lên khoảng 3,85 tỷ USD năm 2025, chiếm khoảng 45% tổng giá trị xuất khẩu nhóm ngành hàng rau quả. Tốc độ tăng trưởng cho thấy sức hấp dẫn của sầu riêng Việt Nam trên thị trường quốc tế, đồng thời phản ánh dư địa lớn nếu ngành hàng được tổ chức sản xuất và tiêu thụ theo hướng chuyên nghiệp hơn.

 

Với đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong năm 2026. Sau 7 tháng, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 1,47 tỷ USD, tăng 44,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng đầu năm ước đạt 1,97 tỷ USD, tăng 28,3%. Các kết quả đạt được đưa sầu riêng Việt Nam tiến gần mốc 2 tỷ USD và tạo cơ sở để ngành hàng hướng tới mục tiêu kim ngạch cả năm ít nhất bằng mức 3,85 tỷ USD của năm 2025, thậm chí có khả năng đạt khoảng 4 tỷ USD.

 

Về cơ cấu thị trường, Trung Quốc tiếp tục giữ vai trò thị trường quan trọng trong xuất khẩu sầu riêng của Việt Nam. Trong 8 tháng đầu năm, thị trường Trung Quốc chiếm trên 95% thị phần, với kim ngạch khoảng 1,85 tỷ USD, tăng 29,9% so với cùng kỳ. Quy mô và sức mua lớn của thị trường Trung Quốc là động lực quan trọng giúp sầu riêng Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Song, tỷ trọng lớn cũng đặt ra yêu cầu ngành hàng sầu riêng phải đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để tránh sự phụ thuộc vào một thị trường làm gia tăng rủi ro khi chính sách nhập khẩu, tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc nhu cầu tiêu dùng thay đổi.

 

Hiện, Việt Nam đã đưa sầu riêng tới hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tháng 7/2026, cũng ghi dấu ấn khi thị trường Ấn Độ chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam. Đây không chỉ là cơ hội mở rộng đầu ra mà còn tạo động lực để doanh nghiệp và người sản xuất nâng cao tiêu chuẩn, đáp ứng những yêu cầu khác nhau của các thị trường quốc tế.

 

Bên cạnh việc mở rộng thị trường, năng lực quản lý vùng nguyên liệu và cơ sở đóng gói cũng đang từng bước được củng cố. Hiện, cả nước có 1.599 mã số vùng trồng và 281 cơ sở đóng gói đang hoạt động. Hệ thống này có ý nghĩa quan trọng trong việc kiểm soát nguồn gốc, chất lượng sản phẩm và đáp ứng yêu cầu kiểm dịch của các nước nhập khẩu.

 

Song tốc độ mở rộng của ngành sầu riêng cũng kéo theo không ít thách thức. Tại một số địa phương, diện tích sản xuất tăng nhanh nhưng chưa được gắn chặt với điều kiện đất đai, nguồn nước, hạ tầng và khả năng tổ chức chuỗi giá trị.

 

Trong khi đó, yêu cầu của thị trường nhập khẩu ngày càng chuyển mạnh từ kiểm soát sản lượng sang kiểm soát chất lượng. An toàn thực phẩm, dư lượng hóa chất, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và tính minh bạch của chuỗi cung ứng đang trở thành những điều kiện quyết định khả năng duy trì thị trường. Cùng với đó, sầu riêng Việt Nam đang phải cạnh tranh với sản phẩm từ nhiều quốc gia trong khu vực, khiến lợi thế về mùa vụ hay sản lượng không còn đủ để bảo đảm sức cạnh tranh dài hạn.

 

Từ thực tế thị trường, yêu cầu đặt ra cho ngành hàng sầu riêng Việt Nam hiện nay không chỉ xử lý những vấn đề phát sinh sau khi hàng hóa gặp trở ngại tại thị trường nhập khẩu, mà còn phải chủ động kiểm soát rủi ro ngay từ vùng sản xuất, trong đó chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc là nền tảng; thị trường và doanh nghiệp là yếu tố định hướng tổ chức sản xuất; còn liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp là trụ cột để hình thành chuỗi giá trị ổn định.

 

Trên cơ sở đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường định hướng tập trung vào 5 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm đưa ngành sầu riêng phát triển chuyên nghiệp, minh bạch, chất lượng và bền vững. Trước hết là đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; tiếp tục đàm phán để tăng thị phần tại các thị trường tiềm năng như Ấn Độ, Australia, New Zealand, đồng thời thúc đẩy xuất khẩu sầu riêng đông lạnh và các sản phẩm chế biến sâu.

 

Đa dạng hóa thị trường đi cùng nâng cao năng lực phân tích và dự báo. Khi có thông tin sớm về nhu cầu, giá cả, tiêu chuẩn kỹ thuật và chính sách thương mại, người sản xuất có thể chủ động điều chỉnh mùa vụ, quy mô và phương thức canh tác. Đây cũng là cơ sở để doanh nghiệp xây dựng chiến lược thị trường dài hạn thay vì phụ thuộc vào các đơn hàng ngắn hạn.

 

Đồng thời, tổ chức lại sản xuất và phát triển vùng nguyên liệu bền vững là yêu cầu cấp thiết. Các vùng trồng cần được rà soát, quy hoạch phù hợp với điều kiện tự nhiên, nguồn nước và hạ tầng. Hình thành vùng nguyên liệu tập trung phải gắn với hệ thống sơ chế, bảo quản, chế biến và xuất khẩu, từ đó giúp giảm chi phí trung gian, nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng và gia tăng giá trị.

 

Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào vùng nguyên liệu, từ hướng dẫn quy trình sản xuất, kiểm soát vật tư đầu vào đến thu hoạch, sơ chế và tiêu thụ. Khi doanh nghiệp đầu tư trở lại vùng nguyên liệu, người nông dân có đầu ra ổn định, còn doanh nghiệp có nguồn cung đáp ứng tiêu chuẩn. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam trên thị trường quốc tế.

 

Trong toàn bộ chuỗi giá trị, chuẩn hóa chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc được xác định là khâu then chốt. Tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý vùng trồng, kiểm soát vật tư, giám sát quy trình sản xuất và truy xuất sản phẩm giúp hạn chế rủi ro bị cảnh báo, trả hàng hoặc mất thị trường, đồng thời nâng cao uy tín của sầu riêng Việt Nam.

 

Không chỉ vậy hạ tầng bảo quản, chế biến và logistics cũng cần tiếp tục được tháo gỡ. Khuyến khích đầu tư kho lạnh, cơ sở sơ chế, bảo quản và chế biến ngay tại các vùng sản xuất tập trung giúp giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao chất lượng và kéo dài thời gian bảo quản. Đẩy mạnh chế biến sâu cũng tạo thêm các dòng sản phẩm mới, giảm áp lực phụ thuộc vào xuất khẩu quả tươi và nâng cao giá trị gia tăng. Song song với đó để giảm chi phí sản xuất, vận chuyển và logistics thì hạ tầng giao thông và thủy lợi phục vụ vùng nguyên liệu cần được nâng cấp.

 

Năng lực kiểm nghiệm cũng cần được nâng lên tương ứng với yêu cầu của thị trường. Việc tiếp tục xã hội hóa, mở rộng các phòng kiểm nghiệm đủ điều kiện, đầu tư thiết bị và nâng cao năng lực kiểm tra các chỉ tiêu đặc thù như Cadimi, Vàng O là cần thiết để chủ động kiểm soát chất lượng. Chuẩn hóa quy trình và đẩy mạnh số hóa hoạt động kiểm nghiệm sẽ góp phần rút ngắn thời gian xử lý, nâng cao độ tin cậy của kết quả và hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng nhanh hơn các yêu cầu từ thị trường nhập khẩu.

 

Kim ngạch xuất khẩu trong 8 tháng đầu năm 2026 đạt gần 2 tỷ USD tiếp tục cho thấy sức bật mạnh mẽ của ngành sầu riêng Việt Nam. Cùng với tăng trưởng, ngành hàng sầu riêng đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển từ mở rộng diện tích sang nâng cao chất lượng, từ sản xuất riêng lẻ sang liên kết chuỗi, từ phụ thuộc vào một thị trường sang đa dạng hóa đầu ra và từ xuất khẩu sản phẩm tươi sang gia tăng chế biến sâu.

 

Định hướng mở rộng thị trường, tổ chức lại vùng nguyên liệu, chuẩn hóa chất lượng, đầu tư hạ tầng và nâng cao năng lực kiểm nghiệm, ngành sầu riêng có cơ sở để khai thác tốt hơn dư địa xuất khẩu trong những năm tới. Kết quả xuất khẩu sầu riêng 8 tháng cho thấy, ngành hàng này đang đứng trước cơ hội củng cố vị thế ngành hàng chủ lực, xây dựng một ngành hàng chuyên nghiệp, minh bạch và phát triển bền vững.

 

Nguồn: Trang Nguyễn, Tạp chí Kinh tế - Tài chính

Quảng cáo sản phẩm