Thuế Mục 301 khiến các nhà nhập khẩu thủy sản Mỹ gặp khó
12/08/2026 03:47
Thuế Mục 301 gây sức ép lên thương mại thủy sản, nhà nhập khẩu Mỹ chịu chi phí tăng, các nước xuất khẩu thêm áp lực cạnh tranh, người tiêu dùng gánh thêm chi phí.
60 nền kinh tế trên thế giới chịu thuế theo Mục 301
Seafoodsource đưa tin, đợt áp thuế mới nhất do Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) triển khai nhằm vào một số quốc gia sản xuất lớn cá hồi và tôm, với mức thuế 10-12,5%, khiến các nhà nhập khẩu thủy sản Mỹ gặp khó trong việc tìm cách hạn chế chi phí gia tăng.
Có 60 nền kinh tế trên thế giới chịu thuế theo Mục 301, trong đó có những quốc gia sản xuất cá hồi hàng đầu như Na Uy, Chilê và Anh, cũng như các nước sản xuất tôm lớn như Ecuador, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam và Thái Lan.
Cá hồi và tôm là hai nhóm sản phẩm chủ lực của Santa Monica Seafood - nhà phân phối có trụ sở tại Rancho Dominguez, bang California, Mỹ. Hai mặt hàng này chiếm khoảng 50% tổng khối lượng sản phẩm mà công ty cung ứng cho nhiều khách hàng trong lĩnh vực bán lẻ và dịch vụ ăn uống.
Do đó, trước khi USTR đưa ra quyết định cuối cùng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Santa Monica Seafood Roger O’Brien đã đề nghị cơ quan này miễn thuế đối với cá hồi và tôm. Đề xuất này không chỉ nhằm bảo vệ doanh nghiệp của ông mà còn xuất phát từ thực tế Mỹ phụ thuộc rất lớn vào nguồn nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ hai mặt hàng này.
Trong thư gửi USTR, O’Brien cho hay, hai nhóm sản phẩm này có vị thế rất đặc thù, đây là hai mặt hàng thủy sản được tiêu thụ nhiều nhất tại Mỹ và về mặt cơ cấu đều phụ thuộc vào nhập khẩu. Khoảng 98% lượng cá hồi Đại Tây Dương và khoảng 90% lượng tôm tiêu thụ tại Mỹ đến từ nguồn nhập khẩu. Điều này phản ánh những hạn chế khó khắc phục của sản xuất trong nước, bao gồm lệnh cấm khai thác thương mại cá hồi Đại Tây Dương tại Mỹ và khả năng mở rộng còn hạn chế của ngành nuôi trồng thủy sản Mỹ.
“Do đó, nhập khẩu không phải là một lựa chọn tùy ý mà là yếu tố thiết yếu để duy trì hoạt động của thị trường và tính liên tục của nguồn cung”, O’Brien nhấn mạnh.
Mức thuế mới sẽ tạo ra “một cú sốc” chi phí trực tiếp đối với chuỗi cung ứng
Sau khi đề nghị miễn trừ cũng như những nỗ lực vận động từ các bên khác trong chuỗi cung ứng thủy sản toàn cầu không thể làm thay đổi quyết định của USTR, O’Brien nhận định, các mức thuế mới sẽ tạo ra “một cú sốc chi phí trực tiếp đối với chuỗi cung ứng vốn đã được tối ưu hóa cao độ và có biên lợi nhuận hạn hẹp” do áp lực cạnh tranh về giá trên thị trường bán lẻ và dịch vụ ăn uống.
O’Brien nói: “Do thị trường tôm và cá hồi Đại Tây Dương phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu, việc áp thuế trên diện rộng đối với các quốc gia cung cấp chủ lực sẽ không khiến nguồn cung chuyển sang sản xuất trong nước. Thay vào đó, nó sẽ làm giảm nguồn cung sẵn có và gia tăng biến động giá”.
“Việc không thể chuyển toàn bộ chi phí gia tăng sang khách hàng sẽ buộc các doanh nghiệp phải chấp nhận giảm biên lợi nhuận, thu hẹp lượng hàng tồn kho hoặc đồng thời thực hiện cả hai. Diễn biến này đe dọa trực tiếp khả năng tồn tại về tài chính của các doanh nghiệp Mỹ trong toàn bộ chuỗi cung ứng thủy sản và đặt việc làm của người lao động Mỹ vào tình thế rủi ro”, O’Brien cho biết thêm.
Mark Frisch, Giám đốc chiến lược của Công ty thủy sản BSF có trụ sở tại Jacksonville, bang Florida, Mỹ chia sẻ, các mức thuế mới cũng khiến BSF rơi vào tình thế khó khăn tương tự.
“Cá hồi là mặt hàng chịu tác động lớn nhất đối với chúng tôi. Chilê là nguồn cung lớn nhất và trước đây cá hồi Chilê vào Mỹ về cơ bản được miễn thuế. Vì vậy, mức thuế 12,5% đối với dòng sản phẩm có sản lượng lớn nhất không đơn thuần là một đợt tăng chi phí. Đó là một khoản chi phí hoàn toàn mới”, Frisch nói với SeafoodSource và cho biết cá hồi Na Uy cũng chịu tác động theo chiều hướng tương tự.
Đối với tôm, Frisch chỉ ra rằng Ấn Độ, Ecuador và Indonesia hiện chịu mức thuế 10%. Trong đó, tôm Ấn Độ trước đó đã phải chịu thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp. Trong khi đó, Việt Nam, Thái Lan và Peru chịu mức thuế 12,5%, khiến việc tìm nguồn cung tôm mà không phải gánh thêm chi phí trở nên khó khăn không kém.
Theo Frisch: “Các mức thuế mới được cộng thêm vào thuế suất thông thường, thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và các mức thuế trước đây áp dụng với Trung Quốc. Với danh mục hàng hóa như của chúng tôi, điều đó đồng nghĩa tổng số tiền thuế phải nộp hằng năm tăng hơn gấp đôi”.
“Không có một thị trường nào khác để chuyển sang. Chúng tôi chỉ có thể tìm cách quản lý chi phí chứ không thể né tránh nó. Chúng tôi đã mua hàng kỳ hạn trước thời điểm thuế có hiệu lực đối với những mặt hàng phù hợp”, Frisch cho biết thêm.
Ngoài cá hồi và tôm, nhiều loài thủy sản chủ lực khác cũng chịu tác động, như cá rô phi từ Trung Quốc, cá tra từ Việt Nam và tôm hùm gai từ Bahamas. Tất cả sản phẩm này đều chịu mức thuế 12,5%.
O’Brien cho biết, Santa Monica Seafood đang tích cực làm việc với cả các nhà cung cấp và khách hàng để duy trì sản lượng, đồng thời tiếp tục tìm kiếm cơ hội mở rộng nguồn cung trong nước ở những lĩnh vực khả thi. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo rằng doanh nghiệp nhiều khả năng sẽ phải chuyển một phần chi phí tăng thêm sang người tiêu dùng cuối cùng.
Frisch cho biết, BSF cũng ưu tiên nguồn cung trong nước khi phù hợp. Tuy nhiên, phần lớn thủy sản mà người Mỹ tiêu thụ vẫn phải nhập khẩu bởi sản lượng trong nước không đủ để đáp ứng nhu cầu.
Việt Nam cần nâng tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng và đa dạng hóa thị trường
Đối với Việt Nam, mức thuế bổ sung 12,5% theo Mục 301 sẽ tạo thêm áp lực đáng kể lên khả năng cạnh tranh của thủy sản tại thị trường Mỹ.
Tác động lớn nhất có thể nằm ở ngành tôm, bởi ngoài thuế Mục 301, doanh nghiệp Việt Nam còn phải đối mặt với thuế chống bán phá giá (AD) và thuế chống trợ cấp (CVD). Theo VASEP, tổng nghĩa vụ thuế đối với một số doanh nghiệp tôm xuất khẩu sang Mỹ có thể lên khoảng 19,6%, cao hơn các đối thủ như Ecuador và Indonesia, trong khi cạnh tranh trên thị trường tôm phụ thuộc rất lớn vào giá.
Tuy nhiên, áp lực này chưa đồng nghĩa thủy sản Việt Nam sẽ lập tức mất thị phần. Nhiều đối thủ cạnh tranh như Thái Lan, Trung Quốc, Chilê và Peru cũng chịu mức thuế 12,5%, trong khi Việt Nam vẫn có lợi thế ở các sản phẩm chế biến sâu, giá trị gia tăng và khả năng đáp ứng đơn hàng đa dạng.
Với cá tra, tác động được đánh giá nhẹ hơn tôm do nhiều doanh nghiệp cá tra xuất khẩu lớn hiện đang được hưởng mức thuế chống bán phá giá bằng 0 USD/kg hoặc đã được loại khỏi lệnh áp thuế đối với một số tổ hợp nhà sản xuất - xuất khẩu. Dù vậy, chi phí tăng thêm sẽ tiếp tục gây sức ép lên biên lợi nhuận, buộc doanh nghiệp phải tối ưu chi phí, nâng tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng và đa dạng hóa thị trường để giảm phụ thuộc vào Mỹ.
Nguồn: Hồng Thắm, Báo Nông nghiệp và Môi trường
Các tin khác
- Tháo gỡ rào cản, xây dựng thương hiệu để mở rộng thị trường xuất khẩu sầu riêng (12/08/2026)
- Kế hoạch khắc phục khuyến nghị của EC về chống khai thác IUU (12/08/2026)
- Mắt xích sống còn để ngành tôm Việt vươn tới xuất khẩu giá trị cao (12/08/2026)
- Chế biến sâu mở dư địa xuất khẩu rau quả (12/08/2026)
- Dệt may Việt tăng sức cạnh tranh, hướng tới mục tiêu 48 tỷ USD (12/08/2026)
Trang chủ
