Xác lập chuẩn mực mới cho hoạt động xuất nhập khẩu
27/07/2026 01:43
Nghị định số 292/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều kiện và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương có hiệu lực từ ngày 5/9/2026. Theo Luật sư Nguyễn Văn Chí (Công ty Luật TNHH Chân Thiện Mỹ, Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh), quy định mới xác lập một chuẩn mực quản lý minh bạch hơn thông qua việc thống nhất danh mục, xác định rõ cơ quan quản lý và công bố mã HS, giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu nhận diện sớm rủi ro pháp lý và thích ứng với các chuẩn mực thương mại quốc tế.
Phóng viên: Theo ông, nếu nhìn Nghị định số 292/2026/NĐ-CP dưới góc độ “quy định hàng cấm” thì có đang bỏ sót giá trị cốt lõi của chính sách?
Luật sư Nguyễn Văn Chí: Tôi cho rằng là có. Nếu chỉ nhìn Nghị định số 292/2026/NĐ-CP dưới góc độ quy định về hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu thì mới thấy phần ngọn của chính sách, chưa chạm đến giá trị cốt lõi mà quy định hướng tới.
Theo tôi, điều quan trọng nhất không phải là danh mục có bao nhiêu nhóm hàng bị cấm, mà là việc Nhà nước đã thiết kế lại một khuôn khổ quản lý ngoại thương theo hướng minh bạch, thống nhất và dễ thực thi hơn. Đây mới là điểm khác biệt của quy định lần này.
Thực tế, hoạt động xuất nhập khẩu ngày nay không còn đơn thuần là đưa hàng hóa qua biên giới. Mỗi lô hàng đều chịu sự điều chỉnh của nhiều quy định liên quan đến an ninh, môi trường, sức khỏe cộng đồng, sở hữu trí tuệ, truy xuất nguồn gốc và các cam kết quốc tế. Khi các quy định nằm rải rác ở nhiều văn bản, doanh nghiệp rất dễ lúng túng trong quá trình tra cứu, áp dụng, thậm chí phát sinh những cách hiểu khác nhau giữa các chủ thể thực thi.
Nghị định số 292/2026/NĐ-CP đã góp phần khắc phục khoảng trống đó khi hệ thống hóa danh mục hàng hóa cấm theo Luật Quản lý ngoại thương, đồng thời xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm quản lý đối với từng nhóm hàng. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp dễ nhận diện rủi ro pháp lý, mà còn tạo cơ sở để các cơ quan quản lý áp dụng quy định thống nhất, hạn chế chồng chéo trong thực thi.
Phóng viên: Nghị định số 292/2026/NĐ-CP quy định, các bộ, ngành công bố chi tiết danh mục hàng hóa cấm kèm mã HS. Theo ông, ý nghĩa thực tiễn của những điểm mới này là gì?
Luật sư Nguyễn Văn Chí: Theo tôi, việc các bộ, ngành công bố chi tiết danh mục hàng hóa cấm kèm mã HS có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, bởi trong hoạt động xuất nhập khẩu, điều quyết định không phải tên gọi của hàng hóa mà là mã HS.
Có thể nói, mã HS chính là “ngôn ngữ pháp lý” của thương mại quốc tế. Mọi hoạt động từ áp dụng chính sách quản lý, xác định thuế, kiểm tra chuyên ngành đến thông quan đều được thực hiện trên cơ sở mã số này.
Thực tế đã không ít tranh chấp hay vướng mắc phát sinh, không phải vì doanh nghiệp cố tình vi phạm, mà do cách phân loại hàng hóa chưa thống nhất. Chỉ cần áp sai một mã HS, doanh nghiệp có thể đối mặt với hàng loạt hệ lụy, từ phải sửa đổi hồ sơ, kéo dài thời gian thông quan đến nguy cơ bị xử lý vi phạm hoặc phát sinh chi phí ngoài dự kiến.
Việc quy định các bộ, ngành công bố chi tiết danh mục hàng hóa cấm kèm mã HS sẽ khắc phục đáng kể khoảng trống này. Khi danh mục được chuẩn hóa và định danh rõ ràng, doanh nghiệp có thể chủ động nhận diện rủi ro ngay từ khi đàm phán hợp đồng, lựa chọn nguồn hàng hay xây dựng phương án kinh doanh, thay vì chờ đến khi làm thủ tục mới phát hiện vướng mắc.
Ở góc độ quản lý, đây cũng là bước chuyển từ quản lý bằng mô tả sang quản lý bằng dữ liệu và chuẩn định danh thống nhất. Điều đó không chỉ giúp cơ quan quản lý thực thi chính sách nhất quán hơn mà còn tạo môi trường kinh doanh minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao khả năng dự báo cho doanh nghiệp. Trong bối cảnh thương mại quốc tế ngày càng phức tạp, minh bạch về mã HS không đơn thuần là yêu cầu kỹ thuật, mà là nền tảng của một hệ thống quản lý ngoại thương hiện đại.
Phóng viên: Danh mục hàng hóa cấm lần này không chỉ bao gồm các mặt hàng liên quan đến quốc phòng, an ninh mà còn mở rộng sang những lĩnh vực như: môi trường, sức khỏe cộng đồng hay lao động cưỡng bức. Điều này phản ánh xu hướng gì, thưa ông?
Luật sư Nguyễn Văn Chí: Theo tôi, điều này phản ánh thực tế rằng, khái niệm hàng hóa cấm trong thương mại hiện đại đã thay đổi. Nếu trước đây, việc cấm xuất khẩu hay nhập khẩu chủ yếu nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh hoặc trật tự xã hội thì ngày nay, phạm vi quản lý đã mở rộng sang những giá trị mang tính toàn cầu như: bảo vệ môi trường, sức khỏe cộng đồng, đa dạng sinh học, quyền con người và phát triển bền vững.
Có thể thấy rõ xu hướng đó qua danh mục hàng hóa cấm xuất nhập khẩu được quy định trong Nghị định số 292/2026/NĐ-CP. Việc tiếp tục cấm xuất khẩu gỗ từ rừng tự nhiên, nhiều loài động, thực vật nguy cấp hay cấm nhập khẩu hàng tiêu dùng đã qua sử dụng, thiết bị y tế cũ, sản phẩm chứa amiăng, hóa chất độc hại... không chỉ nhằm kiểm soát thị trường trong nước mà còn thể hiện định hướng phát triển của Việt Nam: không đánh đổi môi trường, sức khỏe cộng đồng và tài nguyên để lấy tăng trưởng thương mại.
Điểm đáng chú ý nhất, theo tôi là quy định cấm nhập khẩu hàng hóa được khai thác hoặc sản xuất bằng hành vi cưỡng bức lao động. Quy định này có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi quản lý ngoại thương, nó cho thấy Việt Nam đang từng bước nội luật hóa các cam kết quốc tế, đồng thời bắt nhịp với xu hướng mà nhiều nền kinh tế lớn đang theo đuổi, đó là đánh giá cả quy trình tạo ra sản phẩm, chứ không chỉ đánh giá bản thân sản phẩm.
Nói cách khác, một sản phẩm có thể đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về chất lượng, nhưng nếu được tạo ra từ chuỗi cung ứng thiếu minh bạch, vi phạm quyền lao động hoặc gây tổn hại đến môi trường thì vẫn có nguy cơ bị từ chối trên thị trường quốc tế. Đây là xu thế mà doanh nghiệp Việt Nam buộc phải nhận diện và thích ứng nếu muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Phóng viên: Nghị định số 292/2026/NĐ-CP sẽ có hiệu lực từ ngày 5/9/2026. Theo ông, doanh nghiệp cần chuẩn bị gì để thích ứng với quy định mới và đâu là điều kiện để chính sách thực sự phát huy hiệu quả trong thực tiễn?
Luật sư Nguyễn Văn Chí: Theo tôi, điều doanh nghiệp cần thay đổi trước tiên không phải là hồ sơ, mà là tư duy tuân thủ. Nhiều doanh nghiệp vẫn cho rằng, rủi ro chỉ xuất hiện ở khâu thông quan, trong khi thực tế, rủi ro đã hình thành từ rất sớm, ngay khi lựa chọn đối tác, ký kết hợp đồng, xác định mã HS hay xây dựng chuỗi cung ứng. Khi sai từ gốc, càng đi xa chi phí sửa sai càng lớn.
Vì vậy, ngay từ bây giờ, doanh nghiệp cần rà soát toàn bộ danh mục hàng hóa đang kinh doanh, đối chiếu với quy định mới, cập nhật kịp thời mã HS do các bộ, ngành công bố và kiểm soát chặt nguồn gốc hàng hóa, nguyên liệu cũng như quy trình sản xuất. Đây không chỉ là yêu cầu để đáp ứng quy định mới, mà còn là điều kiện để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế về môi trường, lao động và truy xuất nguồn gốc.
Ở góc độ rộng hơn, tôi cho rằng, hiệu quả của một chính sách không được quyết định bởi thời điểm có hiệu lực, mà bởi khả năng được thực thi thống nhất. Muốn vậy, cơ quan quản lý cần hướng dẫn rõ cách áp dụng và bảo đảm sự thống nhất giữa các cơ quan thực thi, để doanh nghiệp không phải tự suy đoán hay “dò đường” trong quá trình thực hiện.
Tuân thủ pháp luật ngày nay không còn là chi phí mà là một khoản đầu tư cho năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp càng chủ động kiểm soát rủi ro pháp lý thì càng giảm được chi phí phát sinh, bảo vệ được uy tín và mở rộng cơ hội tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!
Nguồn: Tạp chí Kinh tế - Tài chính
Các tin khác
- Italia siết quy trình SPS đối với nông sản, thực phẩm và thủy sản Việt Nam (14/08/2026)
- Codex cập nhật 72 phụ gia: Doanh nghiệp xuất nhập khẩu thực phẩm cần lưu ý (14/08/2026)
- Thị trường xuất khẩu hồ tiêu phân hóa rõ nét, ngành gia vị chuyển hướng nâng chất lượng (14/08/2026)
- Bộ trưởng Bộ Công thương: Việt Nam - New Zealand phối hợp đẩy nhanh tiến độ mở cửa thị trường cho nông sản Việt (14/08/2026)
- Chính sách thuế đối với hàng hóa nhập khẩu để gia công lại (14/08/2026)
Trang chủ
