Xuất khẩu điện tử trăm tỷ USD, Việt Nam giữ lại bao nhiêu giá trị?

11/09/2026 04:05 - 53 lượt xem

Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 13,9% trong 8 tháng năm 2026, trong khi kim ngạch xuất khẩu nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt khoảng 101 tỷ USD. Nhưng phía sau những con số tăng trưởng ấn tượng là một câu hỏi lớn: Việt Nam thực sự tạo ra và giữ lại bao nhiêu giá trị trong chuỗi sản xuất điện tử toàn cầu?

 

Xuất khẩu lớn, giá trị giữ lại chưa tương xứng

 

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 8 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2025.

 

Trong cùng thời gian này, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 770,14 tỷ USD, tăng 28,7%; xuất khẩu tăng 22,4%, trong khi nhập khẩu tăng 35,3%, đưa cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 20,46 tỷ USD.

 

Riêng nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện xuất khẩu khoảng 101 tỷ USD, nhưng nhập khẩu khoảng 161,6 tỷ USD. Điện thoại và linh kiện có bức tranh khác khi xuất khẩu đạt khoảng 45,6 tỷ USD, còn nhập khẩu khoảng 6,86 tỷ USD.

 

Những con số này cho thấy điện tử có quy mô rất lớn, song kim ngạch xuất khẩu chưa phản ánh đầy đủ năng lực tạo giá trị trong nước.

 

Thống kê của Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam cho thấy, hiện có hơn 80.000 doanh nghiệp tham gia lĩnh vực điện tử, tạo việc làm cho khoảng 1,9 triệu lao động và đóng góp trên 30% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.

 

Tuy nhiên, nhiều linh kiện, vật liệu và sản phẩm công nghệ cao hiện vẫn phải nhập khẩu để phục vụ sản xuất, lắp ráp và xuất khẩu. Vì vậy, phần giá trị mà doanh nghiệp Việt Nam trực tiếp tạo ra chưa tương xứng với quy mô của ngành.

 

Điều đáng quan tâm không phải một chiếc điện thoại, máy tính hay thiết bị điện tử xuất khẩu được bao nhiêu USD, mà trong số đó có bao nhiêu USD thuộc về doanh nghiệp Việt Nam, người lao động Việt Nam và các nhà cung cấp trong nước. Đây chính là khoảng trống cần có giải pháp lấp đầy của ngành điện tử hiện nay.

 

Ông Nguyễn Văn Thi, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Công nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam cho rằng, cơ hội hiện nay không chỉ nằm ở việc có thêm nhà máy, mà nằm ở việc doanh nghiệp Việt Nam có thể đứng ở đâu trong nhà máy đó và trong cả chuỗi cung ứng phía sau nhà máy. “Một doanh nghiệp sản xuất khuôn chính xác, bảng mạch, cảm biến, đầu nối, vật liệu kỹ thuật hoặc thiết bị kiểm thử có thể tạo ra giá trị khác rất xa một doanh nghiệp chỉ thực hiện công đoạn lắp ráp”, chuyên gia nhận định.

 

Theo đó, thay vì trải nguồn lực để theo đuổi toàn bộ chuỗi giá trị, Việt Nam cần xác định những linh kiện, vật liệu và công đoạn có khả năng hình thành năng lực sản xuất trong nước.

 

Đi cùng với đó là yêu cầu tăng liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam. Sự hiện diện của các tập đoàn lớn có thể tạo cơ hội để doanh nghiệp trong nước tiếp cận tiêu chuẩn, công nghệ, phương thức quản trị và thị trường.

 

Giá trị nằm ở những mắt xích phía sau

 

Một điểm nghẽn lớn khác của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là đầu ra chưa ổn định. Theo ông Nguyễn Văn Thi, khi chưa có đơn hàng đủ lớn và dài hạn, doanh nghiệp khó mạnh dạn bỏ vốn đầu tư máy móc, dây chuyền và công nghệ mới. Đây cũng là nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp dù có nhu cầu nâng cấp nhưng vẫn phải cân nhắc trước những khoản đầu tư lớn.

 

Vốn vì thế trở thành một bài toán khó. Đặc thù của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là phải đầu tư thiết bị, tổ chức sản xuất thử, kiểm định sản phẩm rồi mới có thể được khách hàng công nhận và đưa vào chuỗi cung ứng. Trong khi đó, phần lớn tài sản của doanh nghiệp nằm ở máy móc, dây chuyền sản xuất và những hợp đồng tương lai, những tài sản chưa dễ được chấp nhận như: tài sản thế chấp truyền thống. Nếu chỉ dựa vào cách tiếp cận tín dụng thông thường, doanh nghiệp rất khó có đủ nguồn lực để đầu tư trước, đón cơ hội sau.

 

“Vốn chỉ là một phần của bài toán”, nhấn mạnh điều này, ông Thi cho hay: Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, doanh nghiệp còn phải nâng cấp đồng thời công nghệ, nhân lực và năng lực quản trị. Vì vậy, chính sách hỗ trợ cần được triển khai theo hướng tổng thể, từ tín dụng, thuế đến hỗ trợ đổi mới công nghệ, tự động hóa, chuyển đổi số và nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi.

 

Ở góc độ khác, giảm phụ thuộc nhập khẩu không đồng nghĩa với việc phải sản xuất trong nước mọi loại linh kiện, vật liệu. Trong chuỗi cung ứng toàn cầu, nhập khẩu những sản phẩm Việt Nam chưa có lợi thế về công nghệ, quy mô hoặc chi phí vẫn là lựa chọn kinh tế hợp lý. Do đó, nội địa hóa hiệu quả theo chuyên gia không phải là cuộc đua thay thế bằng mọi giá hàng nhập khẩu.

 

“Nếu sản phẩm trong nước có giá cao hơn, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu hoặc quy mô sản xuất quá nhỏ, việc buộc doanh nghiệp sử dụng nguồn cung nội địa có thể làm tăng chi phí và suy giảm sức cạnh tranh của chính sản phẩm xuất khẩu. Điều quan trọng là chọn đúng những nhóm linh kiện, vật liệu và công đoạn có nhu cầu lớn, dư địa tham gia cao và khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa, từ đó hình thành những mắt xích đủ sức đứng vững trong chuỗi cung ứng”, ông Thi phân tích.

 

Cùng với công nghệ và vốn, nhân lực là điều kiện quyết định để doanh nghiệp bước lên những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn. Ngành điện tử không chỉ cần kỹ sư thiết kế vi mạch, bán dẫn mà còn cần đội ngũ kỹ sư sản xuất, tự động hóa, điều khiển, vật liệu, khuôn mẫu chính xác, kiểm thử, quản lý chất lượng và bảo trì thiết bị. Đây là những vị trí trực tiếp quyết định khả năng làm chủ quy trình sản xuất và nâng cao năng suất.

 

Mục tiêu đào tạo 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên cho ngành bán dẫn đến năm 2030, cùng với việc mở rộng các cơ sở đào tạo về công nghệ vi mạch, đang tạo thêm nền tảng nhân lực cho quá trình phát triển những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao.

 

Vì vậy, thước đo của ngành điện tử trong giai đoạn tới không nên chỉ dừng ở số lượng nhà máy hay kim ngạch xuất khẩu. Quan trọng hơn là Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị trong mỗi sản phẩm, có thêm bao nhiêu doanh nghiệp trong nước trở thành nhà cung cấp cấp 1, cấp 2; mức độ chuyển giao công nghệ ra sao; năng suất lao động tăng thế nào và tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao được nâng lên đến đâu. Đó mới là những chỉ dấu cho thấy ngành điện tử đang thực sự chuyển từ tăng trưởng về quy mô sang nâng cấp về chất lượng và giá trị.

 

Nguồn: Thái Hằng, Tạp chí Kinh tế - Tài chính

Quảng cáo sản phẩm