Xuất khẩu sang thị trường có FTA duy trì đà tăng

24/08/2026 10:58 - 64 lượt xem

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đến giữa tháng 8/2026 đã vượt mốc 712 tỷ USD, đưa xuất nhập khẩu Việt Nam có thể cán mốc 1.100 tỷ USD vào cuối năm. Tuy nhiên, phía sau đà tăng ấn tượng đó là bài toán nâng chất lượng xuất khẩu, tăng giá trị hàng hóa và mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp Việt vào chuỗi cung ứng toàn cầu. ThS. Nguyễn Vân Anh, Khoa Kinh doanh và Logistics, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh đã có những chia sẻ để biến lợi thế từ FTA, cải cách thuế - hải quan và phát triển logistics thành những động lực thực chất mở rộng thị trường.

 

Phóng viên: Mốc 1.100 tỷ USD đang ngày càng gần khi kim ngạch xuất nhập khẩu đã vượt 712 tỷ USD vào giữa tháng 8/2026. Theo bà, Việt Nam đang có những lợi thế nào để duy trì tốc độ tăng trưởng này và đâu là những rủi ro có thể cản bước xuất khẩu trong những tháng cuối năm?

 

ThS Nguyễn Vân Anh: Thông số trên cho thấy, xuất khẩu đang có một nền tảng tăng trưởng khá vững. Trong 7 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng tháng 7/2026 đạt hơn 53 tỷ USD. Đáng chú ý, đà tăng không chỉ đến từ một vài nhóm hàng mà lan rộng ở nhiều ngành, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện, hóa chất, sắt thép đều ghi nhận mức tăng cao.

 

Một tín hiệu tích cực khác là sản xuất trong nước đang phục hồi rõ hơn. Tính chung 7 tháng năm 2026, khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 63,64 tỷ USD, tăng 5,8%, chiếm 19,9% tổng kim ngạch. 31 mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, chiếm 93,0% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó có 7 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD, chiếm 69,7%. Điều này cho thấy, đà tăng xuất khẩu đang được nâng đỡ bởi cả nhu cầu thị trường và năng lực sản xuất trong nước.

 

Với diễn biến này, xuất khẩu có nhiều cơ sở để tiếp tục duy trì mức tăng trưởng hai con số trong những tháng cuối năm 2026. Nếu các yếu tố thuận lợi được giữ vững, mốc tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 1.100 tỷ USD trong năm 2026 là hoàn toàn có khả năng đạt được.

 

Tuy nhiên, tôi cho rằng không nên chỉ đặt câu hỏi xuất khẩu tăng bao nhiêu?, mà cần quan tâm sâu hơn đến giá trị nào thực sự ở lại với nền kinh tế Việt Nam?

 

Hiện khu vực FDI vẫn giữ vai trò chủ đạo, chiếm hơn 80% kim ngạch xuất khẩu trong tháng 7, trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước mới chiếm khoảng 19,4%. Tỷ trọng này cho thấy, dư địa để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào hoạt động xuất khẩu còn rất lớn.

 

Vì vậy, mục tiêu trong giai đoạn tới không chỉ là mở rộng quy mô xuất khẩu, mà phải nâng chất lượng tăng trưởng. Doanh nghiệp Việt cần từng bước làm chủ nhiều hơn các khâu có giá trị gia tăng cao, từ nguyên liệu, thiết kế, công nghệ, sản xuất đến xây dựng thương hiệu và dịch vụ sau bán hàng.

 

Khi doanh nghiệp trong nước tăng được tỷ lệ tham gia trong chuỗi giá trị, mỗi đơn hàng xuất khẩu sẽ tạo ra nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế. Khi đó, những con số kỷ lục về kim ngạch mới thực sự trở thành nền tảng cho một chu kỳ tăng trưởng xuất khẩu bền vững.

 

Phóng viên: Đằng sau con số xuất khẩu là lượng lớn nguyên liệu, linh kiện và máy móc nhập khẩu. Theo bà, đâu là điểm cần thay đổi để Việt Nam không chỉ tăng kim ngạch mà còn giữ lại nhiều hơn giá trị trong mỗi sản phẩm xuất khẩu?

 

ThS Nguyễn Vân Anh: Theo tôi, không nên nhìn nhập siêu chỉ qua một con số mà cần đi sâu vào cơ cấu và mục đích của dòng nhập khẩu. Nhập siêu tự thân chưa hẳn là tín hiệu đáng lo, nếu phần lớn hàng hóa nhập khẩu được đưa vào sản xuất, đầu tư và tạo ra năng lực xuất khẩu trong tương lai.

 

Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/8/2026, Việt Nam nhập siêu khoảng 21,88 tỷ USD. Tuy nhiên, cần nhìn vào cơ cấu nhập khẩu, nhiều nhóm hàng tăng mạnh là máy móc, thiết bị, linh kiện, nguyên liệu phục vụ sản xuất. Điều này có nghĩa, một phần nhập khẩu hôm nay chính là đầu vào cho năng lực xuất khẩu của ngày mai.

 

Vấn đề đáng quan tâm hơn là Việt Nam phải nâng tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong hàng xuất khẩu. Nếu nhập nguyên liệu, lắp ráp rồi xuất khẩu, phần giá trị giữ lại trong nước sẽ hạn chế.

 

Tôi từng chứng kiến nhiều doanh nghiệp có đơn hàng rất tốt nhưng cuối cùng lợi nhuận lại không tương xứng với quy mô xuất khẩu. Nguyên nhân xuất phát ở chỗ, doanh nghiệp phải mua quá nhiều đầu vào, phụ thuộc vào nhà cung cấp nước ngoài và chịu chi phí logistics cao.

 

Vì vậy, nhập khẩu phục vụ sản xuất là cần thiết, nhưng song song với đó phải phát triển công nghiệp hỗ trợ, nguồn cung trong nước và năng lực công nghệ. Khi doanh nghiệp Việt làm chủ được nhiều khâu hơn, mỗi container hàng xuất đi sẽ mang lại nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế.

 

Phóng viên: Trong câu chuyện mở rộng thị trường, FTA đang mang lại những cơ hội nào cho doanh nghiệp Việt Nam?

 

ThS Nguyễn Vân Anh: FTA vẫn là một trong những lợi thế lớn nhất của Việt Nam và hiện nay, chúng ta chỉ mới khai thác được một phần lợi thế đó.

 

Thực tế cho thấy, xuất khẩu sang nhiều thị trường có FTA duy trì đà tăng. Tính chung 7 tháng năm 2026, xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt khoảng 104,7 tỷ USD; Trung Quốc đạt 45,6 tỷ USD; EU gần 38 tỷ USD. Đây đều là những thị trường rất lớn, nhưng FTA không chỉ đơn giản là thuế suất thấp hơn. Đằng sau mỗi cam kết là quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường, lao động, truy xuất nguồn gốc và hàng loạt yêu cầu khác.

 

Điều đáng tiếc là không ít doanh nghiệp chỉ tìm hiểu FTA sau khi đã có đơn hàng. Theo tôi, cách làm này cần thay đổi. Doanh nghiệp cần bắt đầu từ thị trường. Chọn thị trường nào thì phải nghiên cứu ngay quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của thị trường đó. Từ đó, mới thiết kế sản phẩm và chuỗi cung ứng phù hợp.

 

Nói cách khác, FTA phải được đưa vào ngay từ bàn thiết kế sản phẩm, chứ không phải đến khi hàng chuẩn bị xuất khẩu mới nhớ đến. Đây cũng là lý do việc nâng tỷ lệ tận dụng C/O cần được xem là nhiệm vụ trọng tâm.

 

Phóng viên: Logistics là một trong những điểm nghẽn lớn, theo bà, đâu là giải pháp để giảm chi phí và giúp hàng hóa Việt Nam cạnh tranh tốt hơn?

 

ThS Nguyễn Vân Anh: Tôi cho rằng, cần thay đổi cách nhìn về logistics. Đây không còn là khâu dịch vụ đứng phía sau hoạt động xuất khẩu, mà đã trở thành một bộ phận cấu thành năng lực cạnh tranh của hàng Việt.

 

Một sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế từ FTA nhưng phải chịu chi phí vận chuyển cao, thời gian giao hàng dài hoặc qua quá nhiều khâu trung gian thì lợi thế về thuế rất dễ bị triệt tiêu. Trong thương mại quốc tế, đôi khi chênh lệch về thời gian giao hàng hay một khoản chi phí nhỏ cũng có thể quyết định việc doanh nghiệp có giữ được đơn hàng hay không.

 

Hơn nữa, mỗi ngành hàng có một yêu cầu logistics riêng. Nông sản cần hệ thống kho lạnh, vận chuyển lạnh và kiểm soát chất lượng xuyên suốt hành trình. Điện tử đòi hỏi tốc độ, độ chính xác và khả năng theo dõi đơn hàng theo thời gian thực. Dệt may lại phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu, tiến độ sản xuất và thời gian giao hàng. Vì vậy, phát triển logistics phải gắn với đặc thù từng ngành, từng vùng sản xuất và từng thị trường xuất khẩu.

 

Theo tôi, Việt Nam cần hình thành mạng lưới logistics có tính liên kết cao, kết nối từ vùng nguyên liệu, cơ sở sản xuất tới trung tâm logistics, cửa khẩu, cảng biển và thị trường quốc tế. Nếu các mắt xích này được kết nối thông suốt, doanh nghiệp không chỉ giảm chi phí mà còn chủ động hơn trong việc tổ chức đơn hàng và đáp ứng yêu cầu của đối tác.

 

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, tôi không cho rằng nhất thiết phải tự đầu tư toàn bộ hệ thống logistics. Khi logistics trở thành một lợi thế thay vì một điểm nghẽn, hàng Việt sẽ có thêm dư địa để cạnh tranh và đi sâu hơn vào các thị trường toàn cầu.

 

Phóng viên: Trong bối cảnh thị trường toàn cầu còn diễn biến phức tạp, khó lường, yêu cầu tiêu chuẩn ngày càng cao và cạnh tranh ngày càng gay gắt, Việt Nam cần làm gì để biến lợi thế FTA và năng lực sản xuất thành sức bật mới cho hàng hóa xuất khẩu, thay vì chỉ chạy theo tăng trưởng kim ngạch?

 

ThS Nguyễn Vân Anh: Theo tôi, không chỉ đặt câu hỏi xuất khẩu được bao nhiêu?, mà phải trả lời được Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị từ mỗi sản phẩm xuất khẩu? Để làm được điều đó, cần sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý, hiệp hội và doanh nghiệp.

 

Với cơ quan quản lý, trước hết cần tiếp tục cải cách thủ tục theo hướng đơn giản, minh bạch và dễ dự báo; ổn định chính sách thuế; đẩy mạnh số hóa hải quan; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp khai thác hiệu quả các FTA.

 

Cùng với đó, hạ tầng logistics cần được đầu tư đồng bộ hơn, kết nối tốt hơn giữa vùng sản xuất, trung tâm logistics, cửa khẩu, cảng biển và thị trường quốc tế. Mục tiêu cuối cùng là giảm chi phí, rút ngắn thời gian và tăng khả năng cạnh tranh cho hàng Việt.

 

Với các hiệp hội ngành hàng, vai trò cũng cần chuyển từ cung cấp thông tin sang đồng hành cùng doanh nghiệp. Doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, không phải lúc nào cũng có đủ nguồn lực để tự nghiên cứu từng thị trường. Hiệp hội cần giúp doanh nghiệp nhận diện nhu cầu, cập nhật quy định, cảnh báo rủi ro, kết nối đối tác và hỗ trợ xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường.

 

Còn với doanh nghiệp, yếu tố quyết định vẫn là sự chủ động. Chủ động tìm kiếm thị trường mới, chủ động kiểm soát nguồn nguyên liệu và xuất xứ, chủ động đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, lao động, truy xuất nguồn gốc; đồng thời đầu tư cho công nghệ, nhân lực và thương hiệu. Đây là những yếu tố quyết định khả năng doanh nghiệp chuyển từ gia công, lắp ráp sang tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.

 

Một vấn đề nữa doanh nghiệp cần lưu ý là đa dạng hóa thị trường. Không nên để hoạt động xuất khẩu phụ thuộc quá lớn vào một vài thị trường, dù đó là những thị trường lớn và có sức mua tốt. Việc mở rộng sang EU, Hàn Quốc, Canada, Mexico và các thị trường mới sẽ giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro, đồng thời tạo thêm dư địa tăng trưởng.

 

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn bà!

 

Nguồn: Thái Hằng, Tạp chí Kinh tế - Tài chính

Quảng cáo sản phẩm