Xuất khẩu số và bài toán chứng minh giá trị của doanh nghiệp

05/08/2026 10:31 - 39 lượt xem

Luật Thương mại điện tử (TMĐT) và Nghị định số 248/2026/NĐ-CP không chỉ thay đổi cách bán hàng trên nền tảng số, mà đang định hình lại năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Sau hơn một tháng triển khai, những yêu cầu về minh bạch dữ liệu và truy xuất nguồn gốc đã trở thành nền tảng để hàng Việt tham gia xuất khẩu số. Đó là nhận định của TS Ngô Thị Hương Giang, Phó Trưởng khoa Kinh doanh và Logistics, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh.

 

Phóng viên: Sau hơn một tháng Luật TMĐT và Nghị định số 248/2026/NĐ-CP có hiệu lực, nhiều ý kiến cho rằng, quy định mới không chỉ thay đổi cách vận hành của thị trường trong nước mà còn tạo nền tảng, thúc đẩy xuất khẩu số. Vậy, đâu là tác động cốt lõi của chính sách này, thưa bà?

 

TS Ngô Thị Hương Giang: Hiện nay, nhiều doanh nghiệp hiện vẫn nhìn nhận Luật TMĐT dưới góc độ điều chỉnh hoạt động kinh doanh trong nước. Tuy nhiên, giá trị lớn hơn của Luật lại nằm ở việc tạo nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào TMĐT xuyên biên giới và xuất khẩu số.

 

Hiện nay, trên hầu hết các nền tảng TMĐT quốc tế, việc định danh người bán, xác thực hồ sơ pháp lý, minh bạch thông tin sản phẩm, truy xuất nguồn gốc và lưu trữ dữ liệu giao dịch đã trở thành điều kiện bắt buộc. Đây không còn là yêu cầu riêng của từng thị trường mà là chuẩn mực chung của thương mại số toàn cầu. Nếu không đáp ứng được những tiêu chuẩn này, doanh nghiệp sẽ rất khó mở rộng thị trường, dù sản phẩm có chất lượng.

 

Điểm đáng chú ý của Luật TMĐT là chuyển từ tư duy quản lý theo loại hình kinh doanh sang quản lý theo bản chất của giao dịch trên môi trường số. Điều đó đồng nghĩa mọi hoạt động kinh doanh, từ sàn TMĐT, mạng xã hội, livestream bán hàng đến các nền tảng xuyên biên giới, đều phải tuân thủ cùng một chuẩn mực về minh bạch thông tin, trách nhiệm của chủ thể và khả năng kiểm chứng dữ liệu. Đây cũng chính là bước chuẩn hóa cần thiết để doanh nghiệp xây dựng năng lực quản trị theo thông lệ quốc tế ngay từ thị trường trong nước.

 

Sự thay đổi này diễn ra trong bối cảnh xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng tích cực. Tính chung 7 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm trước.

 

Khu vực FDI tiếp tục khẳng định vai trò chủ chốt khi đóng góp 255,89 tỷ USD, chiếm 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 26,4%. Trong khi đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 63,64 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 19,9% và tăng trưởng ở mức 5,8%.

 

Tín hiệu này cho thấy, dư địa của xuất khẩu số vẫn còn rất lớn khi ngày càng nhiều doanh nghiệp tiếp cận thị trường quốc tế thông qua các nền tảng số.

 

Tôi cho rằng, xuất khẩu số sẽ trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế trong những năm tới. Tuy nhiên, cơ hội chỉ dành cho những doanh nghiệp sớm thay đổi tư duy, chuyển từ mục tiêu bán hàng trên nền tảng số sang xây dựng năng lực quản trị theo chuẩn của nền kinh tế số.

 

Khi dữ liệu được chuẩn hóa, nguồn gốc hàng hóa được minh bạch và quy trình vận hành đáp ứng chuẩn quốc tế, doanh nghiệp không chỉ tuân thủ pháp luật mà còn nâng cao uy tín, gia tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng cánh cửa vào chuỗi TMĐT toàn cầu.

 

Phóng viên: Có ý kiến cho rằng, yêu cầu về định danh, dữ liệu và truy xuất nguồn gốc sẽ làm tăng chi phí vận hành. Theo bà, doanh nghiệp nên nhìn những quy định này dưới góc độ tuân thủ hay đầu tư cho năng lực cạnh tranh?

 

TS Ngô Thị Hương Giang: Nếu chỉ nhìn ở góc độ chi phí, doanh nghiệp sẽ thấy mình phải đầu tư nhiều hơn cho việc chuẩn hóa hồ sơ pháp lý, số hóa dữ liệu sản phẩm, xây dựng hệ thống lưu trữ thông tin giao dịch và hoàn thiện quy trình truy xuất nguồn gốc. Đó là những khoản đầu tư không nhỏ. Tuy nhiên, điều doanh nghiệp cần cân nhắc, khoản đầu tư này không phải là chi phí của hôm nay, mà là cái giá phải trả nếu vẫn vận hành theo tư duy cũ.

 

Trong TMĐT xuyên biên giới, dữ liệu đã trở thành một loại tài sản. Người mua quốc tế không chỉ quan tâm sản phẩm có đạt tiêu chuẩn chất lượng hay không, mà còn yêu cầu doanh nghiệp chứng minh được nguồn gốc, tính hợp pháp và toàn bộ hành trình của sản phẩm thông qua dữ liệu minh bạch, có khả năng kiểm chứng.

 

Đó cũng là lý do Luật TMĐT và Nghị định số 248/2026/NĐ-CP đặt ra yêu cầu cao hơn về xác thực chủ thể kinh doanh, quản trị dữ liệu, kiểm soát thông tin sản phẩm và truy xuất nguồn gốc. Theo tôi, những quy định này không nhằm tạo thêm rào cản, mà giúp doanh nghiệp chuẩn hóa hoạt động theo thông lệ của thương mại số toàn cầu.

 

Thực tế cho thấy, những doanh nghiệp đầu tư bài bản cho dữ liệu và truy xuất nguồn gốc luôn có lợi thế khi mở rộng thị trường. Họ rút ngắn thời gian thẩm định của đối tác, giảm rủi ro pháp lý, đáp ứng nhanh các yêu cầu kiểm tra của cơ quan quản lý nước ngoài và nâng cao khả năng hiện diện trên các nền tảng TMĐT quốc tế.

 

Điều này cũng phù hợp với xu hướng tiêu dùng mới. Theo Metric.vn, chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2026, doanh thu của bốn sàn TMĐT lớn (Shopee, Tiktok, Lazada và Tiki) đạt hơn 291.000 tỷ đồng, tăng 44% so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, các gian hàng chính hãng chỉ chiếm chưa đến 3% tổng số gian hàng nhưng tạo ra hơn một phần ba doanh thu toàn thị trường. Điều đó cho thấy, người tiêu dùng ngày càng lựa chọn sản phẩm dựa trên mức độ minh bạch và khả năng xác thực thông tin.

 

Tôi cho rằng, trong thương mại số, niềm tin không được tạo dựng bằng quảng cáo mà bằng dữ liệu. Doanh nghiệp đầu tư cho dữ liệu hôm nay không chỉ để tuân thủ quy định, mà đang đầu tư cho năng lực cạnh tranh và khả năng xuất khẩu bền vững trong tương lai.

 

Phóng viên: Theo bà, xu hướng cạnh tranh TMĐT xuyên biên giới sẽ thay đổi như thế nào? Doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần làm gì để không bị bỏ lại phía sau?

 

TS Ngô Thị Hương Giang: TMĐT xuyên biên giới đang bước sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu, nơi lợi thế cạnh tranh sẽ không còn được quyết định bởi giá bán, chương trình khuyến mại hay chi phí logistics, mà bởi năng lực quản trị dữ liệu, mức độ minh bạch thông tin và khả năng chứng minh nguồn gốc hàng hóa. Đây sẽ là xu hướng chủ đạo của thương mại số trong những năm tới, không chỉ tại Việt Nam mà trên phạm vi toàn cầu.

 

Khi các nền tảng TMĐT, cơ quan quản lý và người tiêu dùng cùng nâng cao yêu cầu về tính minh bạch, doanh nghiệp sẽ phải chuyển từ tư duy “đáp ứng quy định” sang chủ động xây dựng hệ thống quản trị theo chuẩn quốc tế. Những doanh nghiệp chậm chuyển đổi sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì gian hàng, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng số toàn cầu.

 

Vì vậy, với doanh nghiệp thì cần ưu tiên, chú trọng 3 trọng tâm sau:

 

Thứ nhất, chuẩn hóa dữ liệu, từ hồ sơ pháp lý, thông tin sản phẩm đến dữ liệu giao dịch, bảo đảm mọi thông tin đều thống nhất và có thể kiểm chứng.

 

Thứ hai, xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc xuyên suốt từ nguyên liệu, sản xuất, kiểm định, đóng gói đến phân phối để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường nhập khẩu.

 

Thứ ba, đầu tư cho năng lực quản trị số thông qua đào tạo nhân lực, ứng dụng công nghệ, hoàn thiện quy trình kiểm soát nội dung truyền thông và quản trị rủi ro trong toàn bộ hoạt động kinh doanh trên môi trường số.

 

Tôi tin rằng, Luật TMĐT và Nghị định số 248/2026/NĐ-CP không chỉ tạo ra một khuôn khổ quản lý mới mà còn thúc đẩy doanh nghiệp nâng cấp năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp nào xác định chuẩn hóa dữ liệu và minh bạch thông tin là một khoản đầu tư chiến lược, thay vì chỉ là chi phí tuân thủ, sẽ có nhiều cơ hội gia tăng giá trị thương hiệu, mở rộng xuất khẩu qua các nền tảng số và tham gia sâu hơn vào chuỗi TMĐT toàn cầu. Đó cũng là nền tảng để xuất khẩu số trở thành động lực tăng trưởng mới của kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới.

 

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn bà!

 

Nguồn: Tạp chí Kinh tế - Tài chính

Quảng cáo sản phẩm