Xuất nhập khẩu sản phẩm an ninh mạng: Cấp phép theo từng lô hàng
24/08/2026 10:57
Nghị định số 332/2026/NĐ-CP mới ban hành của Chính phủ thiết lập khung quản lý mới đối với hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng, trong đó đáng chú ý là cơ chế cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu theo từng lô đối với sản phẩm thuộc danh mục quản lý. Quy định mới gắn giấy phép với mục đích sử dụng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mã HS.
Cấp phép theo từng lô, danh mục gắn với mã HS
Nghị định số 332/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 19/8/2026 và có hiệu lực ngay từ ngày ký, dành quy định riêng cho hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu và cấp giấy phép đối với nhóm hàng đặc thù là sản phẩm an ninh mạng.
Theo quy định mới, doanh nghiệp nhập khẩu, xuất khẩu sản phẩm an ninh mạng phải đáp ứng điều kiện chung về kinh doanh; bảo đảm chủng loại, quy mô phù hợp với chiến lược phát triển ngành công nghiệp an ninh mạng. Phương án kinh doanh phải nêu rõ mục đích nhập khẩu, phạm vi và đối tượng cung cấp, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Đồng thời, doanh nghiệp cũng phải bảo đảm điều kiện bảo quản; mục đích và đối tượng sử dụng sản phẩm xuất khẩu, nhập khẩu phải rõ ràng và cam kết không gây phương hại đến an ninh quốc gia.
Điểm đáng chú ý nhất nằm tại Điều 13 của Nghị định, theo đó khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu sản phẩm thuộc danh mục phải cấp phép tại Phụ lục II, doanh nghiệp phải có Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm an ninh mạng do Bộ Công an cấp. Giấy phép được cấp theo từng lô hàng, có thời hạn 2 năm; doanh nghiệp xin phép phải có Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng còn hiệu lực.
Đối với hàng nhập khẩu, sản phẩm phải phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế hoặc tiêu chuẩn Việt Nam trong lĩnh vực an ninh mạng. Hồ sơ gồm văn bản đề nghị, tài liệu chứng nhận tuân thủ tiêu chuẩn và tài liệu chứng minh mục đích, đối tượng nhập khẩu; có thể là hợp đồng với đối tượng dùng cuối hoặc tài liệu chứng minh mục đích nhập khẩu phục vụ nghiên cứu, bảo hành. Sau khi nhận hồ sơ hợp lệ, Bộ Công an xem xét, cấp giấy phép trong 5 ngày làm việc; nếu từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Bên cạnh đó, Phụ lục II xác lập danh mục 25 sản phẩm an ninh mạng thuộc diện xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, chia thành 5 nhóm: sản phẩm cho thiết bị đầu cuối, sản phẩm lớp mạng, sản phẩm lớp ứng dụng, sản phẩm bảo vệ dữ liệu và nhóm sản phẩm khác. Danh mục gồm các giải pháp như bảo vệ máy tính, máy chủ, thiết bị di động; tường lửa; phát hiện, ngăn chặn xâm nhập; chống DDoS; mạng riêng ảo; bảo mật thư điện tử; phòng chống thất thoát dữ liệu. Từng loại sản phẩm được gắn với mã HS cụ thể, tạo căn cứ nhận diện hàng hóa khi làm thủ tục xuất nhập khẩu.
Việc đưa mã HS trực tiếp vào danh mục là điểm đáng chú ý từ góc độ thực thi. Thay vì chỉ xác định sản phẩm theo tên gọi hoặc công năng kỹ thuật, doanh nghiệp có thêm căn cứ để đối chiếu hàng hóa trước khi thực hiện giao dịch.
Tuy nhiên, do nhiều thiết bị công nghệ hiện nay có khả năng tích hợp nhiều tính năng, việc xác định đúng công năng an ninh mạng và mã hàng vẫn là khâu cần được doanh nghiệp rà soát kỹ ngay từ khi xây dựng phương án nhập khẩu hoặc xuất khẩu.
Tăng yêu cầu tuân thủ, bảo đảm thủ tục minh bạch
Quy định mới đồng thời thiết lập cơ chế hậu kiểm, doanh nghiệp được cấp phép phải báo cáo hàng năm về tình hình kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng, trong đó có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; kỳ số liệu từ ngày 1/1 đến 31/12 và thời hạn nộp trước ngày 31/1 năm sau.
Đáng chú ý, giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu có thể bị thu hồi nếu hồ sơ bị giả mạo, giấy phép được cấp không đúng thẩm quyền, doanh nghiệp không còn đủ điều kiện hoạt động; thậm chí với sản phẩm nhập khẩu hết thời hạn lưu hành, có lỗi gây hệ quả cho người sử dụng nhưng không thể khắc phục, giấy phép cũng có thể bị thu hồi. Quyết định thu hồi được gửi cho cơ quan hải quan; doanh nghiệp phải tái xuất sản phẩm theo quyết định và không được tiếp tục xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm đó.
Như vậy, quản lý ngoại thương đối với sản phẩm an ninh mạng không chỉ dừng ở khâu thông quan mà được nối với điều kiện kinh doanh, tiêu chuẩn kỹ thuật, mục đích sử dụng và kiểm tra sau cấp phép. Điều này cũng đặt ra yêu cần cần có hướng dẫn rõ cách xác định sản phẩm, mã HS và phạm vi áp dụng.
Nghị định số 332/2026/NĐ-CP được ban hành trong bối cảnh Bộ Công Thương xác định trong các nhóm giải pháp trọng tâm có việc nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường; đồng thời tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa kiểm tra chuyên ngành trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
Định hướng này có ý nghĩa khi đặt cạnh Nghị định 332/2026/NĐ-CP: yêu cầu quản lý với mặt hàng liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia cần chặt chẽ, nhưng quy trình thực hiện cũng cần minh bạch, dễ nhận diện và hạn chế phát sinh chi phí tuân thủ không cần thiết cho doanh nghiệp.
Trước khi Nghị định được ban hành, Liên đoàn Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) khi góp ý dự thảo cũng lưu ý cần làm rõ ranh giới giữa sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng với sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng để tránh tình trạng trùng lặp, khó phân biệt; đồng thời đề nghị các yêu cầu liên quan đến phương án kinh doanh, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật cần đủ rõ để doanh nghiệp có thể thực hiện trên thực tế.
Việc phân loại chính xác vì thế có ý nghĩa trực tiếp đối với nghĩa vụ xin giấy phép, đặc biệt, với những sản phẩm tích hợp nhiều tính năng kỹ thuật, doanh nghiệp cần đối chiếu đồng thời mô tả hàng hóa, chức năng an ninh mạng và mã HS trong Phụ lục II để hạn chế nguy cơ phát sinh vướng mắc khi hàng hóa đến cửa khẩu.
Ở chiều dài hạn, Đề án “Nâng cao năng lực hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng quốc gia” được phê duyệt tháng 3/2026 đặt mục tiêu đến năm 2045 đưa công nghiệp an ninh mạng trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn; có 3 doanh nghiệp an ninh mạng Việt Nam nằm trong nhóm 50 doanh nghiệp dẫn đầu toàn cầu về cung cấp giải pháp, xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ và công nghệ ra thị trường thế giới. Đề án cũng đặt yêu cầu xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật và cơ chế đánh giá sự phù hợp đối với sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng.
Khuôn khổ cấp phép và tiêu chuẩn mới vì vậy vừa kiểm soát rủi ro an ninh, vừa góp phần nâng chuẩn sản phẩm và năng lực cạnh tranh quốc tế. Với việc yêu cầu về tiêu chuẩn, nguồn gốc, đối tượng sử dụng và mục đích giao dịch được xác lập rõ ràng, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm an ninh mạng trong nước cũng có thêm cơ sở để chuẩn hóa sản phẩm ngay từ khâu nghiên cứu, sản xuất trước khi tiếp cận thị trường ngoài nước.
Với Nghị định số 332/2026/NĐ-CP, hoạt động xuất nhập khẩu sản phẩm an ninh mạng đã có khuôn khổ rõ hơn về điều kiện, danh mục và trách nhiệm doanh nghiệp. Khâu thực thi cần bảo đảm phối hợp đồng bộ giữa cơ quan cấp phép, cơ quan hải quan và cộng đồng doanh nghiệp, qua đó vừa kiểm soát các sản phẩm có khả năng tác động đến an ninh quốc gia, vừa duy trì dòng chảy thương mại thông suốt.
Nguồn: Minh Huyền, Tạp chí Kinh tế - Tài chính
Các tin khác
- Quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa (30/09/2026)
- Tối ưu hoá lợi thế CPTPP cho xuất khẩu Việt Nam trước biến động thương mại toàn cầu (30/09/2026)
- Nam Phi khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với xi măng Portland nhập khẩu từ Việt Nam và Mozambique (30/09/2026)
- Từ xuất khẩu sang nâng cấp sản xuất: Doanh nghiệp Việt tìm vị trí mới tại Hoa Kỳ (30/09/2026)
- Áp thuế phòng vệ, “bệ đỡ” cho sản xuất (30/09/2026)
Trang chủ
