Hiệp định thương mại Việt Nam – EFTA mở cơ hội để doanh nghiệp Việt nâng chuẩn chuỗi cung ứng toàn cầu

22/10/2026 12:32 - 42 lượt xem

Từ ưu đãi thuế quan đến chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng nội địa và sản xuất bền vững, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EFTA mở ra cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, khả năng tận dụng lợi thế sẽ phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm, năng lực tuân thủ tiêu chuẩn và mức độ liên kết giữa các doanh nghiệp.

 

Tại Diễn đàn Kinh tế Thụy Sĩ – Việt Nam (SVEF) 2026 diễn ra mới đây, một vấn đề trọng tâm được đặt ra đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đó là làm thế nào chuyển những cam kết thương mại thành cơ hội đầu tư, nâng cấp năng lực sản xuất và xây dựng chuỗi cung ứng có sức cạnh tranh dài hạn.

 

Mở rộng thị trường, tạo nền tảng hợp tác dài hạn

 

Các đại diện tham dự diễn đàn đều thống nhất cho rằng việc Việt Nam và Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EFTA (VEFTA) sẽ mở ra cơ hội kết nối năng lực sản xuất của Việt Nam với công nghệ, tài chính và kinh nghiệm quản trị của các quốc gia EFTA.

 

Khối EFTA gồm các nước Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein với kim ngạch thương mại hai chiều với Việt Nam đạt 4,8 tỷ EUR năm 2025. Hiệp định VEFTA bao quát nhiều lĩnh vực, từ thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư đến sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, mua sắm chính phủ và phát triển bền vững.

 

Ngoài cam kết về hàng công nghiệp, hiệp định còn đề cập tới các lĩnh vực phát triển bền vững, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác và nâng cao năng lực.Việc cắt giảm thuế quan theo lộ trình được kỳ vọng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hàng hóa hai bên, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp mở rộng đầu tư và đa dạng hóa thị trường.

 

Nâng chuẩn chuỗi cung ứng: Từ chất lượng đến truy xuất nguồn gốc

 

Cơ hội thị trường sẽ khó chuyển thành lợi ích nếu doanh nghiệp không đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, an toàn, môi trường và minh bạch thông tin. Đây là một trong những thông điệp nổi bật tại phiên thảo luận về chuyển đổi công nghiệp và chuỗi cung ứng của SVEF 2026.

 

Ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) lưu ý rằng ưu đãi thuế quan không tự động bảo đảm khả năng thâm nhập thị trường. Ngay cả khi thuế nhập khẩu được giảm về 0%, doanh nghiệp vẫn có thể gặp khó khăn nếu sản phẩm không đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định an toàn thực phẩm, yêu cầu môi trường hoặc quy tắc xuất xứ.

 

Vì vậy, doanh nghiệp cần xác định rõ thị trường mục tiêu, rà soát quy tắc xuất xứ, đánh giá chi phí tuân thủ, đầu tư vào chứng nhận chất lượng và chủ động kết nối với nhà nhập khẩu. Năng lực xây dựng thương hiệu và chứng minh nguồn gốc sản phẩm cũng ngày càng quan trọng trong việc tạo dựng lòng tin với đối tác. Đối với chuỗi cung ứng nông sản, những yêu cầu này gắn trực tiếp với khả năng thích ứng trước biến đổi khí hậu và bảo đảm sinh kế cho người sản xuất.

 

Tại phiên thảo luận, ông Khuất Quang Hưng, Phó Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam đã có những chia sẻ rất đáng chú ý về kinh nghiệm xây dựng và tăng cường sức chống chịu của chuỗi cung ứng mạnh, có khả năng cạnh tranh và sức chống chịu cao tại Việt Nam. Lấy ví dụ từ thực tiễn phát triển chuỗi giá trị cà phê bền vững trong ngành cà phê, đại diện Nestlé cho biết một chuỗi cung ứng cà phê mang tính cạnh tranh, có sức chống chịu phải bắt đầu từ những người nông dân.

 

“Không thể có một chuỗi cung ứng cà phê mạnh, đủ sức chống chịu nếu thiếu những người nông dân bền bỉ. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, sức ép ngày càng ra tăng của các vấn đề liên quan đến chất lượng đất, nguồn nước, cũng như các yêu cầu ngày càng cao về truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải, người nông dân cần được tiếp cận kiến thức mới, công nghệ và những phương thức canh tác phù hợp để bảo vệ tài nguyên, duy trì năng suất và sinh kế lâu dài” ông Hưng cho biết.

 

Theo ông Hưng, tính bền vững chỉ có thể duy trì khi mang lại hiệu quả kinh tế, giúp người nông dân có cuộc sống tốt hơn. Vì vậy, doanh nghiệp nên thay đổi cách tiếp cận, có cách tiếp cận vượt ra khỏi quan hệ thu mua đơn thuần, chuyển sang hợp tác dài hạn để giúp nông dân nâng năng suất, giảm chi phí, áp dụng các tiêu chuẩn canh tác bền vững giúp người nông dân tăng năng suất, gia tăng thu nhập và giảm tác động đối với môi trường. Bên cạnh đó, thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nằm trong chuỗi.

 

Từ năm 2011, NESCAFÉ Plan đã đồng hành cùng hơn 23.000 nông hộ và tổ chức hơn 492.000 lượt tập huấn về sản xuất cà phê bền vững theo tiêu chuẩn 4C. Chương trình hỗ trợ giống năng suất cao, chống chịu hạn hán và sâu bệnh, tiết kiệm nước tưới, giảm phân bón hóa học và chuyển đổi sang nông nghiệp tái sinh, qua đó giúp nông dân giảm chi phí, cải thiện thu nhập và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu xuất khẩu.

 

Theo đại diện Nestlé Việt Nam, một chuỗi giá trị bền vững cần dựa trên 3 nền tảng: niềm tin để cùng đầu tư và xử lý các vấn đề, năng lực để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao, đặc biệt là ở các thị trường khó tính, và cam kết dài hạn để gắn bó lâu dài, xây dựng khả năng, và hỗ trợ các nhà cung cấp địa phương.

 

“Đây cũng là dư địa hợp tác nhiều triển vọng giữa các doanh nghiệp Thụy Sĩ và Việt Nam. Phía doanh nghiệp Thụy Sĩ có thế mạnh về công nghệ, chuyên môn, tiêu chuẩn chất lượng và kinh nghiệm quốc tế. Các đối tác Việt Nam có sự hiểu biết địa phương sâu sắc, năng lực sản xuất, và tinh thần khởi nghiệp. Sự kết hợp này có thể hình thành các chuỗi giá trị cạnh tranh và bền vững hơn trong tương lai”, đại diện Nestlé Việt Nam nhấn mạnh.

 

Kết nối công nghệ, phát triển nhà cung ứng nội địa

 

Một cơ hội quan trọng khác từ VEFTA là thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam và các đối tác EFTA trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, cơ khí chính xác, tự động hóa và công nghệ sản xuất tiên tiến. Ông Ngô Chung Khanh nhấn mạnh mục tiêu hợp tác không nên dừng ở nhập khẩu máy móc hay thu hút vốn đầu tư, mà cần hướng tới hình thành năng lực sản xuất mới, đưa doanh nghiệp Việt Nam tham gia mạng lưới cung ứng của các tập đoàn quốc tế và gia tăng giá trị tạo ra trong nước.

 

Theo định hướng này, hiệu quả của một dự án đầu tư cần được nhìn nhận thông qua khả năng chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng nội địa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đây cũng là cách để doanh nghiệp trong nước từng bước chuyển từ vị trí gia công, cung ứng đơn giản sang đảm nhận những công đoạn có yêu cầu kỹ thuật và giá trị gia tăng cao hơn.

 

Với thế mạnh về công nghệ, chuyên môn và tiêu chuẩn chất lượng của Thụy Sĩ, kết hợp cùng năng lực sản xuất và hiểu biết thị trường của doanh nghiệp Việt Nam, hai bên có cơ sở để hình thành các chuỗi giá trị bổ trợ lẫn nhau. Tuy nhiên, để mối liên kết này phát triển bền vững, doanh nghiệp Việt cần chủ động nâng năng lực quản trị, đào tạo nhân lực, cải tiến quy trình và đáp ứng yêu cầu của đối tác ngay từ giai đoạn đầu hợp tác. Khi doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn quốc tế, tiếp nhận công nghệ phù hợp và xây dựng được mạng lưới cung ứng minh bạch, bền vững, VEFTA sẽ trở thành động lực nâng cấp mô hình tăng trưởng và gia tăng vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

 

Nguồn: Hiếu Phương, Tạp chí Kinh tế - Tài chính

Quảng cáo sản phẩm