Làm gì để nâng giá trị xuất khẩu cho cà phê Việt?

07/04/2026 12:30 - 41 lượt xem

Cà phê Việt Nam xuất khẩu năm 2025 vượt 1,5 triệu tấn, kim ngạch đạt hơn 8,4 tỷ USD, tuy nhiên phần lớn vẫn chủ yếu là xuất khẩu thô. Muốn nâng giá trị xuất khẩu cho cà phê Việt cần phải chế biến sâu.

 

Xuất khẩu cà phê thô vẫn là chủ yếu

 

Tại tọa đàm Giải pháp thúc đẩy chế biến sâu để tăng giá trị cho Cà phê Việt, do báo Người Lao Động tổ chức ngày 4/4/2026, ông Nguyễn Thành Tài, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) cho biết, niên vụ 2024-2025 khép lại với dấu mốc đáng chú ý: Xuất khẩu cà phê Việt Nam vượt 1,5 triệu tấn, kim ngạch hơn 8,4 tỷ USD. Nếu tính theo năm dương lịch 2025, quy mô xuất khẩu đạt khoảng 1,59 triệu tấn, tương đương 9 tỷ USD.

 

Cũng theo ông Tài, số liệu năm 2025 cho thấy nhóm cà phê rang xay, hòa tan và phối trộn của Việt Nam đạt khoảng 143.425 tấn, kim ngạch hơn 1,4 tỷ USD. Trong đó, cà phê hòa tan nguyên chất đạt 76.583 tấn, kim ngạch khoảng 856,2 triệu USD. So với quy mô xuất khẩu cà phê nhân, tỷ trọng này còn khiêm tốn. Tuy nhiên, xét về chất lượng tăng trưởng, đây là tín hiệu tích cực, cho thấy hướng đi chế biến sâu đang dần hình thành và tạo ra giá trị thực.

 

Dù vậy, cơ cấu xuất khẩu của ngành vẫn phụ thuộc lớn vào cà phê nhân. Nói cách khác, Việt Nam mạnh ở khâu đầu chuỗi, trong khi phần giá trị cao nhất vẫn nằm ở các công đoạn chế biến, thương hiệu và phân phối tại thị trường nhập khẩu.

 

Ông Tài phân tích, theo số liệu công khai, giá xuất khẩu bình quân cà phê Việt Nam niên vụ 2024-2025 khoảng 5.610 USD/tấn. Trong khi đó, với cà phê chế biến, nếu lấy kim ngạch hơn 1,4 tỷ USD chia cho 143.425 tấn, giá trị bình quân đạt khoảng 9.760 USD/tấn. Riêng cà phê hòa tan đạt khoảng 11.180 USD/tấn.

 

Những con số này cho thấy khoảng cách đáng kể về giá trị giữa cà phê nhân và sản phẩm chế biến.

 

Ông Nguyễn Quang Bình, chuyên gia thị trường cà phê lại cho rằng, tỉ lệ cà phê chế biến của Việt Nam không hẳn quá thấp. Con số khoảng 15% tổng sản lượng có thể xem là đáng ghi nhận, không nên quá tự ti.

 

Đối với cà phê Robusta, do đặc thù thị trường chủ yếu dùng để sản xuất cà phê hòa tan, Việt Nam đã vươn lên đứng đầu thế giới về xuất khẩu cà phê hòa tan. Đây được xem là bước phát triển mang tính tất yếu.

 

Dù vậy, ông cũng thẳng thắn nhìn nhận tỉ lệ chế biến của Việt Nam vẫn còn khiêm tốn. Nguyên nhân không chỉ nằm ở sản xuất mà còn ở cách tổ chức thị trường.

 

Chế biến sâu là con đường tất yếu

 

Ông Trần Văn Công, Tham tán Nông nghiệp Việt Nam tại EU cho biết, Liên minh châu Âu (EU) hiện là trung tâm tiêu thụ, nhập khẩu, rang xay, chế biến và tái xuất cà phê lớn nhất thế giới, với kim ngạch nhập khẩu hằng năm khoảng 26,33 tỷ USD, tương đương 2,7 triệu tấn. Đây là thị trường có sức mua rất lớn, với mức tiêu thụ bình quân từ 15,7-20 kg/người/năm, tùy từng quốc gia. Các đầu mối nhập khẩu quan trọng tập trung tại Đức, Ý, Tây Ban Nha…

 

Trong bối cảnh đó, Việt Nam hiện xuất khẩu sang EU khoảng 580.000 tấn, đạt kim ngạch 3,2 tỷ USD, đứng thứ hai sau Brazil. Đồng thời, Việt Nam cũng là quốc gia xuất khẩu cà phê hòa tan lớn thứ hai vào thị trường này, chỉ sau Anh.

 

Ngành cà phê Việt Nam có lợi thế về nguồn cung cà phê nhân và năng lực chế biến, đồng thời ít chịu cạnh tranh trực tiếp từ khu vực Nam Mỹ ở một số phân khúc. Năm 2025, giá xuất khẩu bình quân đạt hơn 5.500 USD/tấn, chủ yếu nhờ yếu tố tỷ giá.

 

Dù vậy, giá trị thu về vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Nguyên nhân là cơ cấu xuất khẩu vẫn tập trung vào cà phê nhân, chiết xuất, đóng gói và một phần hòa tan. Việt Nam mạnh ở khâu đầu chuỗi nhưng còn hạn chế ở các khâu có giá trị gia tăng cao, dẫn đến việc bỏ lỡ nhiều cơ hội nâng cao giá trị.

 

Theo ông Nguyễn Thành Tài, chế biến sâu được xem là con đường trực tiếp nhất để gia tăng giá trị, qua đó giảm phụ thuộc vào biến động giá của cà phê nhân xanh. Khi mở rộng sang các khâu rang xay, hòa tan, chiết xuất hoặc sản xuất nguyên liệu đồ uống, doanh nghiệp có thể hình thành cấu trúc doanh thu đa tầng, nâng cao khả năng chống chịu trước biến động thị trường.

 

Không chỉ dừng ở giá trị thương mại, chế biến sâu còn tạo động lực ngược trở lại cho vùng nguyên liệu. "Thực tế, các sản phẩm chất lượng cao đòi hỏi nguồn nguyên liệu đồng đều, có khả năng truy xuất và đạt chuẩn. Vì vậy, càng đi sâu vào chế biến, doanh nghiệp càng buộc phải đầu tư bài bản cho vùng trồng, khâu sơ chế, logistics và hệ thống dữ liệu", ông Tài cho biết.

 

Bên cạnh đó, chế biến sâu còn mở ra dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành cà phê. Một chuỗi giá trị hiện đại không chỉ dừng ở hạt cà phê mà còn khai thác hiệu quả các phụ phẩm như cascara, vỏ quả, sinh khối… Đây là lĩnh vực giàu tiềm năng nhưng vẫn chưa được khai thác tương xứng tại Việt Nam.

 

Cần chính sách thúc đẩy đồng bộ

 

Để đẩy mạnh chế biến sâu, cần một hệ thống chính sách hỗ trợ đồng bộ. Ông Nguyễn Thành Tài cho rằng, trước hết, cần phát triển vùng nguyên liệu gắn với chế biến sâu thông qua các mô hình liên kết giữa doanh nghiệp - hợp tác xã - nông dân. Trọng tâm là nâng cao chất lượng thu hoạch, chuẩn hóa sơ chế, tăng cường truy xuất nguồn gốc và kiểm soát đầu vào.

 

Về tài chính, cần xây dựng khung tín dụng trung và dài hạn phù hợp cho các dự án đầu tư nhà máy rang xay, hòa tan, chiết xuất, cũng như hệ thống môi trường và phòng kiểm nghiệm. Đây là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp chuyển dịch từ xuất khẩu nguyên liệu sang đầu tư chiều sâu.

 

Đồng quan điểm, ông Trần Văn Công cũng cho rằng, trong bối cảnh trên, chế biến sâu không còn là lựa chọn mà trở thành yêu cầu tất yếu. Việt Nam cần từng bước giảm tỉ trọng xuất khẩu cà phê nhân, đồng thời đẩy mạnh các sản phẩm giá trị cao như cà phê hòa tan, chiết xuất, cà phê viên nén và các dòng Robusta chất lượng cao. Đây là giải pháp quan trọng để nâng giá trị xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào giá sàn thế giới và cải thiện vị thế thương hiệu.

 

Song song đó, cần chuẩn hóa hệ thống dữ liệu vùng trồng, đẩy mạnh số hóa và hoàn thiện truy xuất nguồn gốc.

 

Nguồn: Tạp chí Kinh tế - Tài chính

Quảng cáo sản phẩm