Lệnh 280 và áp lực tuân thủ với doanh nghiệp xuất khẩu thực phẩm
27/05/2026 05:46
Theo ông Nguyễn Thanh Vân, Chủ tịch Hiệp hội Thương mại điện tử toàn cầu (VGEA), sau nền tảng từ Lệnh 248 và 249 ban hành năm 2021 (có hiệu lực từ 2022), việc nâng cấp lên Lệnh 280, hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật nhập khẩu của Trung Quốc đang tạo ra những áp lực đối với doanh nghiệp xuất khẩu. Những thay đổi này không chỉ đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải nhanh chóng thích ứng về tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng, mà còn cần sự phối hợp chặt chẽ từ các cơ quan quản lý nhằm tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ hoạt động xuất khẩu.
Từ Lệnh 248 và 249 đến sự siết chặt toàn diện của Lệnh 280
Phóng viên: Thưa ông, hệ thống quy định kiểm soát an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật nhập khẩu của Trung Quốc đã có lộ trình thay đổi thế nào từ cột mốc năm 2022 đến nay và điều đó đang tạo ra áp lực gì cho doanh nghiệp Việt Nam?
Ông Nguyễn Thanh Vân: Cần nhìn lại lộ trình siết chặt quản lý nhập khẩu của Trung Quốc trong những năm gần đây. Năm 2021, nước này ban hành Lệnh 248 và Lệnh 249 (có hiệu lực từ năm 2022) nhằm chuẩn hóa quy trình đăng ký doanh nghiệp và quản lý an toàn thực phẩm đối với hàng nhập khẩu. Đến nay, các quy định này tiếp tục được nâng cấp và cụ thể hóa toàn diện thông qua Lệnh 280 với mức độ kiểm soát chặt chẽ hơn.
Theo quy định mới, cơ chế quản lý của Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) không còn dừng ở hình thức tự kê khai hồ sơ như trước. Có tới 17/18 nhóm thực phẩm nhập khẩu bắt buộc phải đăng ký thông qua thư giới thiệu chính thức từ cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu. Đồng thời, các mặt hàng động thực vật phải trải qua quy trình kiểm nghiệm nghiêm ngặt trước khi được đưa vào thị trường Trung Quốc. Hệ thống quản lý mới được vận hành trên cơ sở đánh giá rủi ro trực tiếp, theo dõi chặt chẽ từ tiêu chuẩn kỹ thuật đến lịch sử tuân thủ của từng doanh nghiệp xuất khẩu.
Phóng viên: Ông có thể nói rõ hơn về cơ chế kiểm tra thực tế tại cửa khẩu hiện nay đối với hàng hóa Việt Nam theo tinh thần mới này?
Ông Nguyễn Thanh Vân: Điểm khiến nhiều doanh nghiệp lo ngại nhất hiện nay là cơ chế phân luồng kiểm tra hàng hóa (xanh - vàng - đỏ) của GACC, được xây dựng dựa trên mức độ tuân thủ và độ tin cậy của hệ thống kiểm nghiệm.
Luồng vàng (kiểm tra từ 20% đến 80%): Nếu hàng hóa được kiểm nghiệm tại các phòng thí nghiệm chưa được GACC công nhận hoặc doanh nghiệp chỉ ở mức độ tín nhiệm trung bình, lô hàng sẽ bị xếp vào luồng vàng. Khi đó, tỷ lệ kiểm tra ngẫu nhiên tăng cao, kéo theo nguy cơ chậm thông quan, phát sinh chi phí lưu kho, lưu bãi và ảnh hưởng đến tiến độ giao hàng.
Luồng đỏ (kiểm tra 100%): Trường hợp cơ quan chức năng phát hiện bất kỳ chỉ tiêu nào không đáp ứng quy định của GACC trong quá trình kiểm tra, toàn bộ sản phẩm của doanh nghiệp, bao gồm cả động vật và thực vật sẽ bị chuyển sang luồng đỏ. Đồng nghĩa với việc mọi lô hàng xuất khẩu đều phải kiểm tra 100% tại cửa khẩu. Đây được xem là rủi ro rất lớn đối với doanh nghiệp, bởi chi phí tăng mạnh trong khi các mặt hàng tươi sống dễ bị hư hỏng, làm suy giảm đáng kể khả năng cạnh tranh.
Luồng xanh (thông quan trực tiếp): Đây là cấp độ thuận lợi nhất khi hàng hóa được phép đi thẳng vào thị trường mà không phải kiểm tra tại cửa khẩu. Tuy nhiên, để đạt được luồng xanh, doanh nghiệp và hệ thống kiểm nghiệm của quốc gia xuất khẩu phải đáp ứng hàng loạt tiêu chuẩn nghiêm ngặt về năng lực kiểm định, truy xuất nguồn gốc và mức độ tuân thủ theo yêu cầu của GACC.
Bất cập trong thực tế và đề xuất giải pháp tháo gỡ
Phóng viên: Trong thực tiễn triển khai, doanh nghiệp xuất khẩu và địa phương đã và đang gặp phải những bất cập cụ thể nào, thưa ông?
Ông Nguyễn Thanh Vân: Hiện nay, có hai nút thắt lớn đang làm kéo dài thời gian xử lý và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi thế xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam sang Trung Quốc.
Thứ nhất là vấn đề mã số vùng trồng: Theo yêu cầu của Lệnh 280, mọi sản phẩm xuất khẩu đều phải có mã số vùng trồng rõ ràng và được quản lý chặt chẽ.
Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều loại nông sản như dừa, cây ăn trái hay nông sản đặc thù vẫn được canh tác nhỏ lẻ, phân tán theo từng hộ dân.
Để hình thành vùng nguyên liệu đủ điều kiện đăng ký mã số, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền địa phương và cơ quan quản lý nông nghiệp. Các địa phương buộc phải chủ động rà soát, tổng hợp và đề xuất để Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thiện hồ sơ, gửi công hàm sang GACC phục vụ quá trình xác minh. Nếu quá trình này chậm trễ, doanh nghiệp và người nông dân sẽ đối mặt nguy cơ ách tắc đầu ra xuất khẩu.
Thứ hai là thủ tục công nhận cơ sở đóng gói: Hiện nay, doanh nghiệp muốn được phía Trung Quốc chấp thuận đều phải thực hiện quy trình nhiều tầng nấc: hồ sơ gửi lên Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ làm công hàm gửi GACC, sau đó phía Trung Quốc mới tiến hành thẩm định và xác minh. Toàn bộ quy trình có thể kéo dài từ 6 tháng đến một năm chỉ để hoàn tất chứng nhận cho một cơ sở đóng gói.
Theo tôi, đây là một trong những vướng mắc và là khâu cần sớm có giải pháp tháo gỡ nhằm bảo vệ lợi thế cạnh tranh xuất khẩu. Về bản chất, doanh nghiệp nên chủ động đăng ký trực tiếp với GACC. Trường hợp không đáp ứng yêu cầu thì cơ sở đó tự chịu trách nhiệm và không được phép xuất khẩu, thay vì phải chờ đợi như hiện nay.
Phóng viên: Để tháo gỡ những nút thắt và đưa hàng hóa nông - thủy sản Việt Nam tiến sâu vào thị trường tỷ dân, theo ông đâu là giải pháp quyết định?
Ông Nguyễn Thanh Vân: Để hàng hóa Việt Nam đạt “luồng xanh” khi xuất khẩu sang Trung Quốc (tức được thông quan trực tiếp mà không phải kiểm tra tại cửa khẩu) thì nỗ lực của doanh nghiệp hay của riêng từng bộ ngành là chưa đủ.
Theo tôi, chúng ta cần xác định đây là vấn đề mang tính chiến lược. Nhà nước cần hỗ trợ, nghiên cứu đầu tư xây dựng ít nhất hai trung tâm kiểm nghiệm động - thực vật quy mô quốc gia tại khu vực phía Bắc và phía Nam. Chỉ những trung tâm do Chính phủ thành lập, có đầy đủ năng lực kỹ thuật và tư cách pháp lý, mới đủ điều kiện thiết lập cơ chế công nhận trực tiếp với GACC.
Khi hệ thống kiểm nghiệm này được hình thành và vận hành đồng bộ, hàng hóa của doanh nghiệp sau khi vượt qua quy trình kiểm định trong nước sẽ có cơ hội được cấp chứng nhận “luồng xanh”, từ đó đi thẳng vào thị trường Trung Quốc mà không bị giữ lại kiểm tra tại biên giới. Đây được xem là giải pháp đặc biệt quan trọng đối với các mặt hàng nông sản, thủy sản và thực phẩm tươi sống, những nhóm hàng chịu áp lực lớn nhất về thời gian thông quan.
Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng siết chặt tiêu chuẩn nhập khẩu kể từ sau năm 2022, thị trường hơn một tỷ dân này vừa mở ra cơ hội lớn, vừa đặt ra sức ép thay đổi mạnh mẽ đối với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Sự vào cuộc quyết liệt của Chính phủ và chính quyền địa phương chính là nền tảng thúc đẩy, tháo gỡ nút thắt về cơ chế, hạ tầng kiểm nghiệm và quy trình quản lý, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!
Nguồn: Kinh tế - Tài chính
Các tin khác
- Điều chỉnh thuế xuất khẩu khoáng sản, kim loại (10/06/2026)
- Mỹ bất ngờ đưa Việt Nam vào nhóm chịu mức thuế cao nhất, xuất khẩu tỷ USD sẽ bị ảnh hưởng ra sao? (10/06/2026)
- Năng lực tự chủ kinh tế nhìn từ hiện tượng nhập siêu công nghệ (10/06/2026)
- ‘Cơn sóng ngầm’ bao bì: Biến số mới định hình đơn hàng xuất khẩu nông sản (10/06/2026)
- Cục PVTM tiếp nhận hồ sơ đầy đủ, hợp lệ yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp CBPG đối với sản phẩm thanh thép dự ứng lực có xuất xứ từ Trung Quốc (10/06/2026)
Trang chủ
