Ngành dệt may Việt Nam: Làm gì để bước qua giai đoạn "hụt đà" tăng?
22/04/2026 03:19
Năm 2026, ngành dệt may Việt Nam bước vào giai đoạn tăng trưởng chậm với nhiều biến số khó lường từ thị trường, chi phí đến địa chính trị. Trong bối cảnh đó, mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 50 tỷ USD đòi hỏi cần có những giải pháp mang tính căn cơ và chiến lược dài hạn.
Tăng trưởng chậm lại, áp lực đa chiều bủa vây
Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), bức tranh xuất khẩu dệt may trong những tháng đầu năm 2026 phản ánh rõ xu hướng “hụt đà” sau giai đoạn phục hồi trước đó. Cụ thể, theo số liệu của Cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu quý I/2026 đạt trên 8,86 tỷ USD, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước - mức tăng thấp trong nhiều năm gần đây.
Trong cơ cấu thị trường xuất khẩu, Hoa Kỳ tiếp tục là điểm tựa lớn nhất với gần 3,93 tỷ USD, chiếm hơn 44% tổng kim ngạch xuất khẩu. EU đứng thứ hai với hơn 1 tỷ USD và mức tăng trưởng tích cực trên 13%. Tuy nhiên, những tín hiệu kém khả quan lại xuất hiện tại các thị trường quan trọng như: Nhật Bản và Hàn Quốc khi kim ngạch xuất khẩu giảm lần lượt 6,7% và 11,16%. Điều này cho thấy nhu cầu tiêu dùng toàn cầu phục hồi không đồng đều, kéo theo sự biến động trong đơn hàng.
Áp lực cạnh tranh cũng gia tăng đáng kể khi các đối thủ lớn đẩy mạnh xuất khẩu. Đáng chú ý, Trung Quốc ghi nhận mức tăng trưởng mạnh, đặc biệt trong tháng 2 năm 2026 với kim ngạch xuất khẩu tăng tới 73,1%, tạo sức ép trực tiếp lên thị phần của doanh nghiệp Việt Nam. Trong khi đó, nhu cầu dệt may toàn cầu chỉ tăng khoảng 2-2,5% mỗi năm, khiến dư địa mở rộng sản lượng ngày càng hạn chế.
Không chỉ thị trường, chi phí đầu vào và logistics cũng trở thành “gọng kìm” siết chặt doanh nghiệp ngành dệt may. Xung đột địa chính trị tại Trung Đông kéo dài làm gia tăng chi phí vận tải, trong khi giá nguyên vật liệu và năng lượng duy trì ở mức cao. Các nhà mua hàng quốc tế có xu hướng thận trọng hơn, giảm quy mô đơn hàng, đồng thời yêu cầu cao hơn về chất lượng, thời gian giao hàng và giá cả.
Thực tế này khiến doanh nghiệp dệt may Việt Nam rơi vào thế khó: vừa phải duy trì sản xuất, vừa phải kiểm soát chi phí, trong điều kiện thị trường biến động. Ông Lê Tiến Trường, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dệt may Việt Nam (VINATEX) nhận định, năm 2026 là giai đoạn ngành bước vào chu kỳ điều chỉnh sâu với nhiều biến số bất định. Theo ông Trường, doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy “chờ thị trường” sang “chủ động thích ứng”, trong đó việc tối ưu công suất và duy trì đơn hàng ổn định là yếu tố sống còn.
Một thực tế đáng chú ý khác là xu hướng đơn hàng thay đổi rõ rệt. Các đơn hàng lớn hàng triệu sản phẩm dần biến mất, thay vào đó là những đơn hàng nhỏ từ 2.000-3.000 sản phẩm nhưng yêu cầu cao hơn về chất lượng và thời gian giao hàng rút ngắn. Điều này buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc phương thức sản xuất theo hướng linh hoạt, tinh gọn và hiệu quả hơn.
Giải pháp vượt “vòng vây”, hướng tới mục tiêu 50 tỷ USD
Trước bối cảnh nhiều thách thức, ngành dệt may Việt Nam xác định không thể tiếp tục tăng trưởng theo chiều rộng mà phải chuyển mạnh sang chiều sâu, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh.
Theo ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch VITAS, mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 50 tỷ USD trong năm 2026 không phải là tham vọng ngắn hạn, mà là kết quả của quá trình tái cấu trúc toàn diện chuỗi cung ứng. Trọng tâm hiện nay là nâng cao tỷ lệ nội địa hóa - hiện đạt khoảng 45-48% và tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do để gia tăng lợi thế cạnh tranh.
Một trong những giải pháp then chốt là chuyển dịch sang các phân khúc thị trường xuất khẩu có giá trị cao hơn, thay vì chỉ tập trung gia công số lượng lớn. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần đầu tư mạnh vào thiết kế, phát triển sản phẩm và xây dựng thương hiệu, qua đó tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Song song với đó, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ là yếu tố không thể thiếu. Việc đẩy mạnh tự động hóa, robot hóa trong các khâu sản xuất không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất mà còn giảm phụ thuộc vào lao động phổ thông. Đồng thời, quản trị trên nền tảng số giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng kết nối, minh bạch thông tin và đáp ứng nhanh yêu cầu của khách hàng.
Một hướng đi quan trọng khác là phát triển hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ và logistics. Như ông Lê Tiến Trường phân tích, chi phí sản xuất nội tại chỉ chiếm dưới 70% tổng giá trị, phần còn lại phụ thuộc vào logistics và các yếu tố bên ngoài. Do đó, việc nâng cao năng lực vận tải, cảng biển và dịch vụ hỗ trợ sẽ giúp doanh nghiệp dệt may rút ngắn thời gian giao hàng, giảm chi phí và tăng sức cạnh tranh.
Về chính sách, sự ổn định và nhất quán là yếu tố then chốt. Ngành dệt may có đặc thù ký kết đơn hàng trước từ 3-6 tháng, do đó các thay đổi chính sách cần được thông báo sớm để doanh nghiệp chủ động thích ứng. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp đạt tăng trưởng chất lượng, như ưu đãi thuế đối với đơn vị có giá trị gia tăng cao hoặc tăng thu nhập cho người lao động.
Ngoài ra, chiến lược thị trường cũng cần được điều chỉnh theo hướng chọn lọc. Thay vì mở rộng dàn trải, doanh nghiệp cần tập trung vào các thị trường và khách hàng có yêu cầu cao, giá trị lớn và ổn định. Đây là hướng đi giúp ngành dệt may xây dựng vị thế bền vững, tránh phụ thuộc vào các đơn hàng giá thấp, biên lợi nhuận mỏng.
Có thể thấy, mục tiêu xuất khẩu 50 tỷ USD trong năm 2026 không chỉ là thách thức mà còn là cơ hội để ngành dệt may Việt Nam tái định vị chiến lược phát triển. Nếu triển khai đồng bộ các giải pháp về công nghệ, chuỗi cung ứng, thị trường và chính sách, ngành hoàn toàn có thể vượt qua giai đoạn “hụt đà”, chuyển mình sang quỹ đạo tăng trưởng bền vững hơn, đóng góp tích cực vào nền kinh tế đất nước.
Nguồn: Tạp chí Kinh tế - Tài chính
Các tin khác
- Điều chỉnh thuế xuất khẩu khoáng sản, kim loại (10/06/2026)
- Mỹ bất ngờ đưa Việt Nam vào nhóm chịu mức thuế cao nhất, xuất khẩu tỷ USD sẽ bị ảnh hưởng ra sao? (10/06/2026)
- Năng lực tự chủ kinh tế nhìn từ hiện tượng nhập siêu công nghệ (10/06/2026)
- ‘Cơn sóng ngầm’ bao bì: Biến số mới định hình đơn hàng xuất khẩu nông sản (10/06/2026)
- Cục PVTM tiếp nhận hồ sơ đầy đủ, hợp lệ yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp CBPG đối với sản phẩm thanh thép dự ứng lực có xuất xứ từ Trung Quốc (10/06/2026)
Trang chủ
