Xuất khẩu cao su đối mặt nhiều sức ép trong bối cảnh cạnh tranh gia tăng
11/05/2026 01:13
Trong 4 tháng đầu năm 2026, ngành cao su Việt Nam xuất khẩu đạt khoảng 3,5 tỷ USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù ghi nhận tăng trưởng, nhưng hàng loạt khó khăn về giá cả, thị trường, chi phí đầu vào và các rào cản thương mại đang ngày càng gia tăng, đặt ngành cao su trước áp lực phải tái cấu trúc để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
Rào cản thương mại gia tăng
Theo số liệu từ Hiệp hội Cao su Việt Nam, trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành, sản phẩm cao su đạt khoảng 1,7 tỷ USD, chiếm 47,8%; gỗ cao su đạt 949 triệu USD, chiếm 27,3%; còn cao su thiên nhiên đạt khoảng 868 triệu USD, tương đương 24,8%. Kết quả tăng trưởng chủ yếu đến từ sự gia tăng về sản lượng xuất khẩu trong khi giá xuất khẩu có xu hướng giảm.
Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay của ngành cao su là xu hướng giảm giá xuất khẩu trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ cao su thiên nhiên trên thế giới suy yếu. Trong 4 tháng đầu năm 2026, sản lượng xuất khẩu cao su thiên nhiên ước đạt khoảng 467 nghìn tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, nhưng kim ngạch chỉ đạt 868 triệu USD, giảm 0,7%. Điều này cho thấy giá xuất khẩu đang giảm mạnh và biến động khó lường.
Ngoài áp lực về giá, cơ cấu thị trường xuất khẩu hiện nay cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro khi ngành cao su phụ thuộc lớn vào thị trường Trung Quốc. Hiện Trung Quốc chiếm hơn 69% kim ngạch xuất khẩu cao su thiên nhiên của Việt Nam. Mức độ tập trung quá cao này khiến ngành dễ bị tác động bởi các thay đổi chính sách nhập khẩu hoặc nhu cầu tiêu thụ từ thị trường này.
Đáng chú ý, từ tháng 5/2026, Trung Quốc dự kiến áp dụng chính sách thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số quốc gia châu Phi. Điều này sẽ làm gia tăng cạnh tranh trên thị trường và có thể ảnh hưởng đến thị phần của cao su Việt Nam trong trung và dài hạn.
Trong khi đó, các yếu tố địa chính trị và biến động kinh tế toàn cầu tiếp tục làm gia tăng chi phí đầu vào. Giá dầu tăng kéo theo chi phí vận chuyển, logistics và vật tư sản xuất như phân bón tăng mạnh, ảnh hưởng đáng kể đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu.
Bên cạnh những khó khăn từ thị trường, ngành cao su Việt Nam còn đứng trước sức ép ngày càng lớn từ các tiêu chuẩn thương mại quốc tế.
Theo Hiệp hội Cao su Việt Nam, quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu dự kiến áp dụng trong giai đoạn 2026 – 2027 sẽ đặt ra yêu cầu rất cao về truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Đây được xem là thách thức lớn đối với ngành cao su Việt Nam khi hơn 50% nguồn cung hiện đến từ khu vực tiểu điền.
Việc quản lý vùng nguyên liệu phân tán khiến công tác truy xuất nguồn gốc gặp nhiều khó khăn. Nếu không sớm xây dựng hệ thống quản lý phù hợp, ngành cao su có nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng tại thị trường EU.
Ở góc độ nội tại, ngành cao su cũng đang đối mặt với nhiều hạn chế như diện tích cao su có xu hướng thu hẹp theo định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp; nhiều diện tích già cỗi, năng suất giảm nhưng tiến độ tái canh còn chậm, ảnh hưởng đến nguồn cung trung và dài hạn.
Chế biến sâu, đa dạng thị trường xuất khẩu
Để xuất khẩu bền vững, Hiệp hội Cao su Việt Nam cho rằng, cần sớm triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm duy trì đà tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh cho toàn ngành.
Trong ngắn hạn, cần tập trung hỗ trợ doanh nghiệp ổn định dòng tiền và duy trì sản xuất thông qua việc đẩy nhanh tiến độ hoàn thuế giá trị gia tăng, đồng thời triển khai các gói tín dụng với lãi suất phù hợp.
Hiệp hội cũng đề xuất tăng cường xúc tiến thương mại theo hướng có trọng tâm, mở rộng thị trường xuất khẩu ngoài Trung Quốc nhằm giảm thiểu rủi ro phụ thuộc vào một thị trường. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực cung cấp thông tin và dự báo thị trường cần được chú trọng để doanh nghiệp chủ động ứng phó với các biến động về giá cả, chính sách và chuỗi cung ứng.
Về dài hạn, ngành cao su cần hoàn thiện khung thể chế và chính sách theo hướng phát triển bền vững. Trong đó, việc xem xét điều chỉnh chính sách thuế đối với gỗ cao su thanh lý và thúc đẩy các cơ chế tín dụng xanh được xem là những giải pháp quan trọng.
Đặc biệt, sớm xây dựng và triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc cho ngành cao su ở cấp quốc gia, gắn với mã số vùng trồng và có cơ chế hỗ trợ phù hợp cho khu vực tiểu điền nhằm đáp ứng yêu cầu của các thị trường như EU.
Song song đó, cần thúc đẩy liên kết chuỗi giữa doanh nghiệp và người sản xuất để kiểm soát chất lượng nguyên liệu, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc cũng như gia tăng tính minh bạch trong chuỗi cung ứng.
Hiệp hội cũng nhấn mạnh việc đẩy mạnh chế biến sâu, phát triển các sản phẩm công nghiệp cao su có giá trị gia tăng cao là hướng đi quan trọng để giảm phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu thô. Đồng thời, ngành cần tiếp tục đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do và tăng cường quảng bá thương hiệu “Cao su Việt Nam” gắn với tiêu chuẩn chất lượng và phát triển bền vững.
Nguồn: Tạp chí Kinh tế - Tài chính
Các tin khác
- Điều chỉnh thuế xuất khẩu khoáng sản, kim loại (10/06/2026)
- Mỹ bất ngờ đưa Việt Nam vào nhóm chịu mức thuế cao nhất, xuất khẩu tỷ USD sẽ bị ảnh hưởng ra sao? (10/06/2026)
- Năng lực tự chủ kinh tế nhìn từ hiện tượng nhập siêu công nghệ (10/06/2026)
- ‘Cơn sóng ngầm’ bao bì: Biến số mới định hình đơn hàng xuất khẩu nông sản (10/06/2026)
- Cục PVTM tiếp nhận hồ sơ đầy đủ, hợp lệ yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp CBPG đối với sản phẩm thanh thép dự ứng lực có xuất xứ từ Trung Quốc (10/06/2026)
Trang chủ
