Xuất khẩu thủy sản đạt gần 5,8 tỷ USD sau nửa năm

01/07/2026 09:47 - 28 lượt xem

Nhờ hiệu quả từ chuyển dịch thị trường, điều chỉnh cơ cấu sản phẩm và khai thác hiệu quả các thị trường có lợi thế, xuất khẩu thủy sản Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trong nửa đầu năm 2026 với kim ngạch gần 5,8 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước.

 

Tăng trưởng nhờ chuyển dịch thị trường và cơ cấu sản phẩm

 

Theo bà Lê Hằng, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), tháng 6/2026, xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt gần 1,1 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 6 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 5,8 tỷ USD, tăng 12,8%.

 

Theo bà Hằng, trong nửa đầu năm 2026, tăng trưởng xuất khẩu thủy sản không chỉ đến từ sự phục hồi của nhu cầu mà còn phản ánh khả năng xoay chuyển thị trường, điều chỉnh cơ cấu sản phẩm và khai thác hiệu quả hơn các khu vực có lợi thế về địa lý, chi phí và nhu cầu tiêu thụ ổn định.

 

Đây cũng là điểm được VASEP nhấn mạnh trong bối cảnh các nhà nhập khẩu ngày càng thận trọng hơn khi đơn hàng có xu hướng ngắn hơn, chia nhỏ hơn, yêu cầu giá cạnh tranh hơn, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn về chất lượng, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và thời gian giao hàng.

 

Trong cơ cấu xuất khẩu, tôm tiếp tục là nhóm hàng lớn nhất. Tháng 6/2026, xuất khẩu tôm đạt 445,9 triệu USD, tăng 20,7% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đạt 2,3 tỷ USD, tăng 13,6%, chiếm 40,5% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Đây là nhóm hàng đóng góp lớn nhất vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành và vẫn giữ vai trò quyết định đối với mục tiêu tăng trưởng cả năm.

 

Tăng trưởng của ngành tôm trong 6 tháng đầu năm được hỗ trợ lớn từ thị trường Trung Quốc và Hong Kong, đặc biệt với các sản phẩm tôm sú, tôm hùm, tôm đông lạnh và một số dòng sản phẩm phục vụ phân khúc nhà hàng, tiêu dùng cao cấp.

 

Tuy nhiên, thị trường Mỹ vẫn là điểm nghẽn lớn đối với ngành tôm. Mặc dù xuất khẩu thủy sản nói chung sang Mỹ tăng mạnh trong tháng 6, riêng ngành tôm vẫn chịu sức ép cạnh tranh từ Ecuador, Indonesia, Ấn Độ cùng các nguồn cung có lợi thế về giá thành, quy mô sản xuất và nguồn nguyên liệu. Bên cạnh đó, các rủi ro về thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, SIMP, MMPA cùng các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc tiếp tục làm gia tăng chi phí tuân thủ của doanh nghiệp.

 

Cá tra tiếp tục giữ vị trí trụ cột thứ hai với kim ngạch xuất khẩu tháng 6 đạt 209,1 triệu USD, tăng 7,7%; lũy kế 6 tháng đạt 1,1 tỷ USD, tăng 12,1%, chiếm 19,4% tổng kim ngạch. Theo VASEP, mức tăng này cho thấy nhu cầu đối với cá thịt trắng giá hợp lý vẫn duy trì ổn định trong bối cảnh người tiêu dùng tại nhiều thị trường có xu hướng tiết kiệm chi tiêu.

 

Tuy nhiên, ngành hàng này vẫn đối mặt với áp lực từ giá nguyên liệu, chi phí thức ăn, logistics và các chương trình rà soát tại thị trường Mỹ. Để duy trì đà tăng trưởng, doanh nghiệp cần tiếp tục mở rộng các sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm cắt khúc, tẩm ướp, đóng gói nhỏ và các dòng thực phẩm tiện lợi.

 

Nhóm cá các loại khác đạt quy mô gần tương đương cá tra. Tháng 6, xuất khẩu đạt 198,8 triệu USD, tăng 19,8%; lũy kế 6 tháng đạt 1,1 tỷ USD, tăng 12%, chiếm 19,3% tổng kim ngạch. Tuy nhiên, các sản phẩm cá biển và hải sản khai thác vẫn chịu áp lực về nguồn nguyên liệu, chứng nhận khai thác hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và các yêu cầu chống khai thác IUU từ EU cũng như MMPA của Mỹ.

 

Trong khi đó, cá ngừ có diễn biến trái chiều. Tháng 6, xuất khẩu đạt 85,9 triệu USD, tăng 28%, nhưng lũy kế 6 tháng chỉ đạt 452,7 triệu USD, giảm 2%. Theo VASEP, tháng 6 đã xuất hiện tín hiệu phục hồi nhưng chưa đủ bù đắp mức giảm của các tháng trước. Ngành hàng này đang chịu tác động từ sức mua chậm, giá nguyên liệu, chi phí chế biến đồ hộp và các yêu cầu ngày càng cao về khai thác bền vững.

 

Ở chiều ngược lại, các nhóm nhuyễn thể và cua ghẹ tiếp tục là điểm sáng. Xuất khẩu mực, bạch tuộc tháng 6 đạt 77,9 triệu USD, tăng 26,5%; lũy kế đạt 380,2 triệu USD, tăng 18,8%. Cua ghẹ và giáp xác khác đạt 206,2 triệu USD sau 6 tháng, tăng 26,2%; nhuyễn thể có vỏ đạt 155,3 triệu USD, tăng 33,1%; nhóm nhuyễn thể khác tuy quy mô còn nhỏ nhưng tăng tới 84,4%.

 

Trung Quốc dẫn dắt tăng trưởng, logistics tiếp tục là thách thức

 

Về thị trường xuất khẩu, Trung Quốc tiếp tục là khu vực nhập khẩu lớn nhất và là động lực tăng trưởng rõ nét của thủy sản Việt Nam. Tháng 6, xuất khẩu sang thị trường này đạt 256,6 triệu USD, tăng 32,2%; lũy kế 6 tháng đạt 1,5 tỷ USD, tăng 37,9%, chiếm 25,8% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản.

 

Theo VASEP, mức tăng nổi bật này cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của Trung Quốc đối với các sản phẩm tôm, cá tra, tôm hùm, nhuyễn thể, thủy sản sống và đông lạnh.

 

Thị trường Mỹ ghi nhận sự phục hồi mạnh trong tháng 6 với kim ngạch đạt 195,3 triệu USD, tăng 48,3% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, lũy kế 6 tháng mới đạt 897,9 triệu USD, gần như đi ngang so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy mức tăng trong tháng 6 có thể chủ yếu đến từ các đơn hàng ngắn hạn, trong khi nền cầu chung vẫn chưa thực sự ổn định. Các yếu tố như tồn kho, sức mua thận trọng, cạnh tranh về giá, chính sách thuế quan và các rào cản kỹ thuật tiếp tục khiến doanh nghiệp xuất khẩu sang Mỹ phải duy trì trạng thái thận trọng.

 

Đáng chú ý, thị trường EU đạt 101,5 triệu USD trong tháng 6, tăng 6,3%, nhưng lũy kế 6 tháng chỉ đạt 536,7 triệu USD, giảm 0,8%. Theo VASEP, thẻ vàng IUU và các yêu cầu kiểm soát chứng nhận khai thác tiếp tục tạo áp lực đối với nhóm hải sản khai thác xuất khẩu sang EU.

 

Trong khi đó, Trung Đông đạt 166,6 triệu USD sau 6 tháng, giảm nhẹ 0,1%. Ở chiều tích cực, Hàn Quốc đạt 419,4 triệu USD, tăng 9%; ASEAN đạt 380,2 triệu USD, tăng 15,8%; nhóm các thị trường khác đạt khoảng 1,1 tỷ USD, tăng 17,1%. Theo VASEP, kết quả này cho thấy chiến lược đa dạng hóa thị trường đang phát huy hiệu quả khi các thị trường gần, có nhu cầu ổn định và ít biến động về chính sách thương mại đang góp phần bù đắp sự chững lại tại Mỹ, EU và Nhật Bản.

 

Bên cạnh diễn biến thị trường, VASEP cho biết cước vận tải container toàn cầu đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với xuất khẩu thủy sản trong nửa cuối năm. Là ngành có tỷ trọng vận chuyển container lạnh cao, mọi biến động về cước biển, phụ phí container lạnh, phụ phí nhiên liệu, bảo hiểm, tắc nghẽn cảng hay thiếu chỗ trên tàu đều tác động trực tiếp đến giá thành và khả năng giao hàng của doanh nghiệp.

 

Theo bà Lê Hằng, kết quả gần 5,8 tỷ USD sau 6 tháng đầu năm là nền tảng tích cực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số của xuất khẩu thủy sản năm 2026. Trong nửa cuối năm, ngành cần tiếp tục giữ đà tại các thị trường tăng trưởng như Trung Quốc, ASEAN và Hàn Quốc; củng cố việc tuân thủ các yêu cầu tại Mỹ, EU và Nhật Bản; đồng thời kiểm soát tốt chi phí đầu vào, logistics và gia tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu, có giá trị gia tăng.

 

Nguồn: Tạp chí Kinh tế - Tài chính

Quảng cáo sản phẩm