Ngành chè dịch chuyển thị trường xuất khẩu, tập trung giải bài toán chế biến sâu

22/06/2026 12:14 - 31 lượt xem

Số liệu thống kê mới nhất từ Cục Xuất nhập khẩu thuộc Bộ Công Thương cho thấy bức tranh đa sắc màu với những mảng tăng giảm đan xen của ngành chè Việt Nam. Trong khi hoạt động xuất khẩu sang một số đối tác lớn ở khu vực Đông Á có sự sụt giảm đáng kể, tín hiệu lạc quan lại xuất hiện tại các thị trường truyền thống như Mỹ, Nga và một số nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, toàn ngành vẫn đang phải đối mặt với bài toán lớn về mặt giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế.

 

Biến động về sản lượng, giá trị và áp lực cạnh tranh vĩ mô

 

Tính riêng trong tháng 5/2026, khối lượng chè xuất khẩu của Việt Nam đạt 8.820 tấn, tương ứng với mức kim ngạch 16,1 triệu USD, ghi nhận mức sụt giảm 18,1% về lượng và giảm 14,1% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

 

Lũy kế tổng thể trong 5 tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng chè xuất khẩu của toàn quốc cán mốc 43.200 tấn, mang về nguồn ngoại tệ 74,7 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2025, các chỉ số này đã giảm 7,1% về khối lượng và giảm 2,5% về mặt trị giá. Điểm sáng kỹ thuật duy nhất trong bức tranh tổng thể này là giá chè xuất khẩu bình quân đã đạt mức 1.730 USD một tấn, đạt tỷ lệ tăng trưởng 4,9%, phản ánh những nỗ lực bước đầu trong việc cải thiện chất lượng thương mại.

 

Cục Xuất nhập khẩu nhìn nhận, mặc dù giá xuất khẩu bình quân ghi nhận mức tăng nhẹ, ngành chè Việt Nam hiện vẫn phải chịu áp lực cạnh tranh cực kỳ lớn từ các quốc gia sản xuất và phân phối hàng đầu thế giới như Ấn Độ, Kenya và Sri Lanka. Những hạn chế cố hữu về mặt chất lượng sản phẩm chưa đồng đều giữa các vùng nguyên liệu, kết hợp với tình trạng thiếu vắng các thương hiệu mạnh mang tầm quốc gia là nguyên nhân cốt lõi khiến giá trị gia tăng của sản phẩm chè Việt Nam vẫn bị neo ở mức thấp hơn so với mặt bằng chung của thị trường quốc tế. Hiện tại, theo dữ liệu từ Hiệp hội chè Việt Nam, nước ta đang đứng vị trí thứ 5 trên bản đồ sản xuất và xuất khẩu chè thế giới.

 

Sự phân hóa rõ nét giữa các thị trường tiêu thụ

 

Số liệu phân tích cấu trúc thị trường 5 tháng đầu năm cho thấy một cuộc dịch chuyển dòng hàng đáng chú ý giữa các đối tác thương mại, bóc tách cụ thể qua các nhóm thị trường sau:

 

Thị trường Đài Loan (Trung Quốc): Tiếp tục giữ vững vị trí là thị trường tiêu thụ quy mô lớn nhất của chè Việt Nam với sản lượng nhập khẩu đạt 4.800 tấn, giá trị kim ngạch đạt 9,2 triệu USD, tăng trưởng 4,3% về lượng và tăng mạnh 17% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, giá xuất khẩu bình quân sang thị trường này đạt mức khá cao với 1.912 USD một tấn, tăng 12,1%. 

 

Thị trường Trung Quốc và Pakistan: Ghi nhận xu hướng suy giảm rõ rệt. Riêng đối với thị trường Trung Quốc đại lục, khối lượng chè nhập khẩu từ Việt Nam chỉ đạt 4.400 tấn, trị giá 6,8 triệu USD, tương ứng với mức giảm 9,8% về lượng và giảm 14,1% về trị giá.

 

Các thị trường truyền thống và khu vực mới: Đạt mức tăng trưởng ấn tượng. Xuất khẩu sang thị trường Nga đạt 2.800 tấn, trị giá 4,8 triệu USD, tăng 13,2% về lượng và 2,7% về trị giá. Thị trường Mỹ nhập khẩu 2.800 tấn với trị giá 4,7 triệu USD, đạt mức tăng 3,9% về lượng và tăng mạnh 14,5% về trị giá. Dòng hàng sang Ấn Độ cũng tăng 12% về lượng và 18,1% về trị giá. Đặc biệt, thị trường Philippines ghi nhận mức tăng trưởng bùng nổ khi tăng tới 84,2% về sản lượng và 93,6% về mặt trị giá.

 

Định hướng đầu tư chế biến sâu để vượt rào cản kỹ thuật

 

Mặc dù bản đồ xuất khẩu đang có xu hướng mở rộng biên độ tại các quốc gia như Nga, Mỹ, Philippines hay Đài Loan (Trung Quốc), cơ quan quản lý nhà nước đánh giá ngành chè vẫn chưa thoát khỏi cái bóng của một nước xuất khẩu nguyên liệu thô. Tỷ trọng chè thô, chè sơ chế chưa qua đóng gói thương hiệu trong tổng cấu trúc hàng xuất khẩu vẫn chiếm tỷ lệ áp đảo, dẫn đến việc giá xuất khẩu bình quân của Việt Nam (1.730 USD một tấn) bị tụt lại khá sâu so với các nước đối thủ.

 

Để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và tái cơ cấu chuỗi giá trị, Cục Xuất nhập khẩu khuyến nghị các doanh nghiệp sản xuất trong nước cần phải thay đổi tư duy kinh doanh, đẩy mạnh nguồn vốn đầu tư vào công nghệ chế biến sâu, tinh chế các sản phẩm chè thành phẩm có hàm lượng công nghệ cao. Song song đó, công tác quản lý chất lượng tại vùng trồng cần được siết chặt nhằm kiểm soát tuyệt đối các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, các hàng rào kỹ thuật về kiểm dịch động thực vật (SPS).

 

Việc chuẩn hóa quy trình sản xuất theo các tiêu chuẩn quốc tế được xem là chiếc chìa khóa bắt buộc để các doanh nghiệp chè Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào các thị trường có tiêu chuẩn kiểm định khắt khe như Mỹ và Liên minh châu Âu (EU), đồng thời mở ra cơ hội khai thác các thị trường ngách giàu tiềm năng tại khu vực Trung Đông và các nước Đông Nam Á lân cận.

 

Nguồn: Thương hiêu & Công luận

Quảng cáo sản phẩm