Sức ép phòng vệ thương mại gia tăng với hàng xuất khẩu Việt Nam

24/08/2026 11:03 - 38 lượt xem

 

Từ ống thép hàn không gỉ tại Thổ Nhĩ Kỳ, sản phẩm thép tại Canada đến dây và cáp nhôm ở Hoa Kỳ, nhiều ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam đang phải đối mặt với rủi ro phòng vệ thương mại (PVTM). Khi kim ngạch và thị phần tăng nhanh, minh bạch xuất xứ, dữ liệu chi phí và chuỗi cung ứng trở thành điều kiện để doanh nghiệp giữ vững thị trường.

 

Sức ép lan từ thuế chống bán phá giá đến hạn ngạch xuất khẩu

 

Tính đến hết tháng 5/2026, hàng hóa Việt Nam đã phải đối mặt với 321 vụ việc điều tra do các quốc gia và vùng lãnh thổ khởi xướng, trong đó Hoa Kỳ đứng đầu với 82 vụ việc, chiếm khoảng 26% tổng số vụ việc, còn Canada đã tiến hành 23 vụ việc.

 

Theo ông Lương Hoàng Thái, Cục trưởng Cục PVTM (Bộ Công Thương), Hoa Kỳ không chỉ dừng lại ở việc áp dụng các biện pháp PVTM truyền thống mà còn đang tiên phong triển khai những hình thức điều tra mới với phạm vi mở rộng.

 

Số vụ điều tra tại các quốc gia gia tăng cho thấy, rủi ro PVTM đang mở rộng cùng với quy mô xuất khẩu của Việt Nam. Quan sát diễn biến của một số mặt hàng xuất khẩu Việt Nam tại thị trường nước ngoài có thể thấy tác động của các biện pháp PVTM ngày càng kéo dài và bị áp dụng mức thuế cao.

 

Cục PVTM cho biết, ngày 3/7/2026, Bộ Thương mại Thổ Nhĩ Kỳ khởi xướng rà soát cuối kỳ đối với một số sản phẩm ống thép hàn không gỉ có xuất xứ từ Việt Nam. Các sản phẩm này đang chịu thuế từ 19,64% đến 25% theo giá giao tại cảng đến của nước nhập khẩu (CIF) và mức thuế tiếp tục được duy trì cho đến khi có kết luận cuối cùng.

 

Theo đó, doanh nghiệp có 37 ngày để trả lời bản câu hỏi theo thời hạn áp dụng đối với từng bên. Nếu doanh nghiệp không hợp tác đầy đủ hoặc nộp thông tin quá hạn, cơ quan điều tra có thể sử dụng dữ liệu sẵn có theo hướng bất lợi; vì vậy, khả năng bảo vệ thị phần không chỉ phụ thuộc vào giá bán mà còn phụ thuộc vào chất lượng hồ sơ và dữ liệu.

 

Tại Canada, sức ép đối với mặt hàng thép xuất khẩu xuất hiện dưới hình thức hạn ngạch thuế quan, được áp dụng từ ngày 27/6/2025. Đợt tham vấn công khai kéo dài đến hết ngày 19/8/2026 nhằm xem xét phương thức quản lý và phân bổ hạn ngạch.

 

Đáng nói là, nếu cơ chế của quốc gia nhập khẩu thay đổi, khả năng tiếp cận thị trường, tiến độ giao hàng và chi phí của doanh nghiệp thép Việt Nam có thể chịu ảnh hưởng đáng kể trong thời gian chờ đợi; đồng thời hạn ngạch còn tạo ra sự bất định về lượng hàng xuất khẩu.

 

Các vụ việc cho thấy rủi ro điều tra PVTM tồn tại dưới nhiều hình thức, từ rà soát biện pháp hiện hành, điều chỉnh hạn ngạch đến cảnh báo ngành hàng tăng trưởng nhanh.

 

Ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục PVTM nhận định, nguy cơ hàng Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với điều tra vẫn ở mức cao, nguyên nhân nằm ở thay đổi chính sách của các nền kinh tế lớn và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam.

 

Áp lực phòng vệ mở rộng sang nhiều thị trường

 

Việt Nam là một trong những quốc gia có năng lực sản xuất tương đối phát triển trong khu vực Đông Nam Á, với nhiều doanh nghiệp đã đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường của các thị trường xuất khẩu lớn như Hoa Kỳ và Liên minh châu ÂU (EU) và từng bước tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

 

Cùng với quy mô xuất khẩu và thị phần tăng nhanh, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng thường có nguy cơ cao đối mặt với các biện pháp PVTM tại nhiều thị trường.

 

Ngày 14/8/2026, Đài Loan (Trung Quốc) đã khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với thép không gỉ cán nguội dạng phẳng nhập khẩu từ Việt Nam. Đơn kiện cáo buộc biên độ phá giá 31,36%, nhưng đây mới là số liệu do nguyên đơn cung cấp, chưa phải kết luận của cơ quan điều tra; dù vậy, danh sách ban đầu xác định 20 doanh nghiệp Việt Nam liên quan.

 

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, ngày 3/7/2026, Bộ Thương mại nước này khởi xướng rà soát cuối kỳ biện pháp chống bán phá giá đối với ống thép hàn không gỉ có xuất xứ từ Việt Nam. Mức thuế hiện hành từ 19,64% đến 25% giá CIF, áp dụng với tùy doanh nghiệp, tiếp tục được duy trì trong thời gian rà soát.

 

Canada cũng thông báo áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời đối với một số sản phẩm tủ gỗ và tủ lavabo nhập khẩu dưới hình thức thuế bổ sung 25%, có hiệu lực từ ngày 31/7/2026 và kéo dài tối đa 200 ngày. Việt Nam không thuộc danh sách miễn trừ, nên hàng hóa có xuất xứ Việt Nam trong phạm vi điều chỉnh phải chịu khoản thuế này.

 

Bên cạnh đó, doanh nghiệp xuất khẩu còn phải lưu ý các cuộc điều tra tự vệ toàn cầu. Trong năm 2026, Anh khởi xướng điều tra đối với nhựa PET, còn New Zealand điều tra một số sản phẩm thanh nhôm định hình; do biện pháp tự vệ có thể áp dụng với nhiều nguồn nhập khẩu, hàng Việt Nam vẫn có nguy cơ bị ảnh hưởng dù không bị cáo buộc bán phá giá hoặc nhận trợ cấp.

 

Mặc dù, các vụ việc khởi xướng điều tra chưa đồng nghĩa với việc hàng Việt Nam vi phạm hoặc chắc chắn bị áp thuế, tuy nhiên diễn biến trên cho thấy, doanh nghiệp cần theo dõi thị trường, kiểm soát xuất xứ và chuẩn bị dữ liệu sản xuất, chi phí, giá bán từ sớm để bảo vệ quyền lợi khi tham gia vụ việc.

 

Doanh nghiệp cần đưa quản trị PVTM vào kế hoạch sản xuất và xuất khẩu; kiểm soát nguyên liệu, nâng tỷ lệ nội địa hóa và mở rộng công đoạn tạo giá trị gia tăng để chứng minh hoạt động sản xuất thực chất tại Việt Nam. Hồ sơ về chi phí, doanh thu và giao dịch xuất khẩu phải được lưu giữ nhất quán, song song với số hóa dữ liệu và truy xuất nguồn gốc, sẽ giúp doanh nghiệp phản hồi nhanh khi cơ quan điều tra yêu cầu.

 

Bà Nguyễn Yến Ngọc, Trưởng phòng Xử lý PVTM nước ngoài (Cục PVTM), khuyến nghị doanh nghiệp theo dõi cảnh báo sớm, minh bạch chuỗi cung ứng và hoàn thiện sổ sách theo chuẩn quốc tế. Luật sư Nguyễn Thị Phương Thảo, Văn phòng Luật sư IDVN cho rằng, ứng phó vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của doanh nghiệp; do đó doanh nghiệp cần hợp tác nghiêm túc ngay từ đầu để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.

 

Ở góc độ tích cực, sức ép PVTM được cho là góp phần thúc đẩy doanh nghiệp chuẩn hóa quản trị, minh bạch chuỗi cung ứng và nâng giá trị gia tăng trong nước, giúp củng cố uy tín và nâng cao sức cạnh tranh bền vững.

 

Nguồn: Minh Hà, Tạp chí Kinh tế - Tài chính

Quảng cáo sản phẩm