Xuất khẩu thép trước bão phòng vệ thương mại: Áp lực không chỉ từ giá bán

06/07/2026 12:37 - 35 lượt xem

Khi năng lực sản xuất phục hồi và thép Việt Nam mở rộng hiện diện tại nhiều thị trường lớn, nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại cũng gia tăng. Từ EU, Hoa Kỳ đến Úc, Mexico, các vụ việc gần đây cho thấy doanh nghiệp thép không chỉ phải cạnh tranh về giá, mà còn phải chứng minh năng lực quản trị xuất xứ, nguyên liệu và chuỗi cung ứng một cách minh bạch.

 

Áp lực từ thị trường lớn

 

Ngành thép Việt Nam bước vào năm 2026 với nền tảng sản xuất tích cực. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), năm 2025, sản lượng thép thô đạt mức cao nhất trong 5 năm, tăng 12% so với năm 2024; tiêu thụ đạt 24,1 triệu tấn, tăng 12,9%; trong đó xuất khẩu đạt 3,15 triệu tấn, tăng 12,8%.

 

VSA dự báo năm 2026, ngành thép có thể tăng trưởng 8-10%, sản xuất thép thành phẩm đạt khoảng 33-34,5 triệu tấn. Tuy nhiên, chính đà mở rộng này cũng khiến thép trở thành nhóm hàng chịu áp lực lớn từ các công cụ phòng vệ thương mại ở thị trường nhập khẩu.

 

Thực tế, cảnh báo này không mới, nhưng đang trở nên dày đặc hơn và thép chiếm tỷ trọng lớn trong các vụ việc phòng vệ thương mại đối với hàng xuất khẩu Việt Nam. Các vụ việc chủ yếu đến từ những thị trường xuất khẩu lớn của thép Việt Nam như Hoa Kỳ, EU, một số nước ASEAN; gần đây Mexico và Hoa Kỳ nổi lên là các thị trường khởi xướng nhiều điều tra do kim ngạch nhập khẩu thép từ Việt Nam tăng nhanh.

 

Từ năm 2004, sản phẩm thép Việt Nam đã đối mặt hàng chục vụ việc do nước ngoài khởi xướng, gồm chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ toàn cầu và chống lẩn tránh thuế.

 

Trường hợp đáng chú ý là vụ việc Liên minh châu Âu (EU) áp thuế chống bán phá giá đối với thép cán nóng của Ai Cập, Nhật Bản và Việt Nam ngày 26/9/2025. Với Việt Nam, mức thuế áp dụng cho Formosa Hà Tĩnh và “tất cả thép cán nóng từ Việt Nam” là 12,1%; riêng nhóm doanh nghiệp Hòa Phát được nêu là không thuộc diện áp dụng biện pháp.

 

Trước đó, trong kết luận cuối cùng, Ủy ban châu Âu (EC) xác định biên độ bán phá giá của doanh nghiệp Việt Nam từ 0-12,1% và kết luận không có đủ bằng chứng cho cáo buộc chính sách thuế xuất khẩu của Việt Nam làm giảm giá nguyên liệu đầu vào.

 

Tại Úc, áp lực cũng tăng nhanh khi ngày 30/4/2026, Ủy ban Chống bán phá giá Úc mở điều tra chống bán phá giá thép mạ kẽm đối với Tập đoàn Hoa Sen và Công ty CP Thép Nam Kim, theo đơn của BlueScope Australia, với biên độ bán phá giá ước tính là 56,21%; hạn nộp bản trả lời là ngày 8/6/2026.

 

Dù vậy, không phải vụ việc nào cũng bất lợi. Với sản phẩm thanh cốt thép cán nóng tại Úc, ADC đã chấm dứt điều tra đối với một doanh nghiệp Việt Nam sau khi xác định biên độ bán phá giá nhỏ hơn 2%, được coi là không đáng kể theo pháp luật Úc. Đây là minh chứng cho thấy việc hợp tác đầy đủ, cung cấp dữ liệu đúng và đủ có thể tạo khác biệt trong kết quả điều tra.

 

Ở Hoa Kỳ, rủi ro nổi bật không chỉ là chống bán phá giá mà còn là chống lẩn tránh. Cuối năm 2025, Bộ Thương mại Hoa Kỳ khởi xướng điều tra chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp với bánh xe bằng thép 22,5-24,5 inch của Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc. Cáo buộc tập trung vào việc sản phẩm hoàn thiện tại Việt Nam sử dụng thép cán nóng có nguồn gốc Trung Quốc để lẩn tránh lệnh áp thuế với hàng Trung Quốc. Trước đó, VSA cũng thông tin Hoa Kỳ đã nhận hồ sơ đề nghị điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với thép cốt bê tông nhập khẩu từ Việt Nam, với biên độ chống bán phá giá bị cáo buộc lên tới 115,44%.

 

Quản trị xuất xứ là “lá chắn” sống còn

 

Đáng chú ý, danh sách cảnh báo của Cục Phòng vệ thương mại cho thấy số vụ việc đang bao phủ nhiều dòng sản phẩm thép. Tại EU, các mặt hàng được cảnh báo gồm thép dẹt cán nguội, thép cán phẳng mạ hoặc tráng thiếc, bu lông, đinh vít bằng sắt hoặc thép, thép phủ vật liệu hữu cơ và thép không gỉ cán nguội.

 

Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu thép và một số sản phẩm từ phép sang EU tăng nhanh trong năm vừa qua cũng là yếu tố có thể dẫn tới nguy cơ điều tra nếu xu hướng tiếp diễn.

 

Cảnh báo về nguy cơ phòng vệ thương mại cũng thể hiện rõ khi thị phần tăng nhanh tại các thị trường đã có tiền lệ áp thuế với nước khác như Úc và Mexico, do đó nguy cơ hàng Việt bị đưa vào tầm ngắm là điều khó tránh.

 

Vấn đề đặt ra với doanh nghiệp hiện nay không chỉ nằm ở lượng xuất khẩu hay giá bán. Với nhiều vụ việc, cơ quan điều tra nước ngoài tập trung vào nguồn gốc nguyên liệu, quá trình gia công và khả năng “chuyển tải” qua Việt Nam.

 

Cục Phòng vệ thương mại từng cảnh báo doanh nghiệp xuất khẩu ống thép sang Hoa Kỳ cần tránh sử dụng thép cán nóng từ các thị trường đã bị Hoa Kỳ áp thuế chống bán phá giá, đồng thời lưu giữ hồ sơ, chứng từ truy xuất nguồn gốc nguyên liệu một cách khoa học; đồng thời cảnh báo tương tự cũng được nêu với cáp thép dự ứng lực và mặt bích bằng thép không gỉ xuất khẩu sang Hoa Kỳ.

 

Ở góc độ quản lý xuất nhập khẩu, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, nhấn mạnh xuất xứ hàng hóa là khâu quan trọng để doanh nghiệp tận dụng ưu đãi từ các FTA, đồng thời là công cụ phòng, chống gian lận xuất xứ và bảo vệ sản xuất trong nước. Nhận định này đặc biệt sát với ngành thép, nơi sự dịch chuyển nguyên liệu và công đoạn sản xuất có thể làm phát sinh cáo buộc lẩn tránh thuế nếu hồ sơ xuất xứ không đủ chặt chẽ.

 

Tại hội nghị do Cục Xuất nhập khẩu tổ chức ngày 12/6/2026, ông Đinh Quốc Thái, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký VSA, cho biết sản xuất, xuất khẩu thép thời gian qua tăng trưởng ổn định và dự báo xuất khẩu cả năm có thể tăng 10%. Ông đề nghị Bộ Công Thương tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng FTA, cập nhật quy chuẩn, tiêu chuẩn sản phẩm thép và nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn thép xanh. Đây không chỉ là kiến nghị về mở rộng thị trường, mà còn là yêu cầu nâng cấp năng lực tuân thủ để giữ thị trường trong bối cảnh hàng rào phòng vệ thương mại ngày càng phức tạp.

 

Trong “bão” phòng vệ thương mại, lợi thế của thép Việt không chỉ nằm ở sản lượng hay giá bán, mà phụ thuộc ngày càng lớn vào năng lực tuân thủ. Doanh nghiệp cần chủ động chuẩn hóa hồ sơ xuất xứ, chứng từ nguyên liệu, dữ liệu giá thành, hệ thống kế toán chi phí và tiêu chuẩn xanh để giảm rủi ro bị điều tra, áp thuế hoặc cáo buộc lẩn tránh. Khi thị trường càng mở rộng, yêu cầu minh bạch càng khắt khe và xu hướng bảo hộ gia tăng, ngành Thép chỉ có thể giữ vững đà xuất khẩu nếu chuyển từ thế bị động kháng kiện sang chủ động phòng ngừa rủi ro và nâng cao năng lực cạnh tranh trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

 

Nguồn: Tạp chí Kinh tế - Tài chính

Quảng cáo sản phẩm